1- Ở Á Ðông, hai nước đông đảo tín đồ Catholics nhất là Phi Luật Tân, 83.09% dân số, và Việt Nam, 7.94% dân số ( 3). Phi bị Tây Ban Nha đô hộ suốt 350 năm, từ tk 16 tới 19, nên Catholics chiếm đa số, mãi tới năm 1899 khi chuyển qua tay Mỹ, số theo Tin lành mới tăng lên khoảng 10%, riêng đảo Mindanao, Hồi giáo vẫn còn cố thủ. Ở Việt Nam, thời 1930- 40, số Catholics khoảng 1.2 triệu người, tức 6% dân số trong 20 triệu dân ( VNVHSC tr. 224- Ðào Duy Anh) sau 70 năm tăng lên 8% dân số (trong 75 triệu dân -thống kê 1996), Tin lành khoảng 1 vạn người nay chắc cũng tăng lên nhiều nhất là vùng Cao nguyên sắc tộc Thượng. Tính toàn cõi Á châu 3.5 tỷ người thì có 103 triệu người Catholics tức 2.94% ( 3).
Nhìn chung, trong những tk 17- 19, khi các nước Bồ Ðào Nha, Tây Ban Nha, Pháp…còn mạnh và ráo riết truyền giáo thì Catholic bành trướng, trong khi Tin lành sau này lan theo làn sóng thế lực Hoa Kỳ và khối Bắc Âu, Gia Nã Ðại, Úc…Riêng đế quốc Anh, với Anh giáo và đã tách rời La Mã, đã cấm Công giáo suốt mấy thế kỷ (từ 1531 thoát ly Vatican, cấm Catholic từ 1673 tới 1829 mới nới lỏng), nên khi đi chiếm nước khác, Anh thường chú trọng về thương mại hơn là về truyền giáo. Ở Ấn, ở Miến Ðiện, Mã Lai, Singapore, Hồng Kông, tôn giáo bản xứ gần như còn nguyên vẹn, Miến Ðiện có 1.2% Catholics và Ấn có 1.8% Catholics. Ở Thái trong khi người Bồ Ðào Nha, Pháp… tập trung vào việc truyền đạo thì Anh ngay từ 1612 chỉ chú trọng tới việc xây hãng xưởng chứ không xây nhà thờ! ( English traders who arrived in 1612 for the East India Company were more interested in building a factory than a church ) (5). Thống kê Tin lành ở Á châu không rõ rệt, riêng ở Trung Hoa lục địa, từ 1970 tới 1998, số người được rửa tội có thể lên tới 50 triệu, gồm 37,000 nhà thờ nhà họp Công giáo và Tin lành, phân phát 22 triệu cuốn Thánh kinh, trong khi nhà nước đưa ra con số nhỏ hơn nhiều : 6 triệu Tin lành, 4 triệu Catholics ( 6). Tin lành , nhất là Tin lành Mỹ đã đi vào Tầu với “ một túi bạc lớn” ( Christians who appear with bags full of money- Nicholas Young) (6), mua chuộc quân cán địa phương, dùng phương pháp mới như mở lớp dậy Anh ngữ che đậy việc truyền giáo (TEAM= Teaching English as Ministry), hoạt động từ thiện…Hội truyền giáo Ðại học ( United Board for Christian Higher Education in Asia) liên lạc với hơn 100 viện Ðại học Trung quốc và chi phí tới 15 triệu MK.. Nói khác đi, Thiên Chúa giáo trong mấy thế kỷ nay truyền bá mạnh khắp năm châu, nhất là ở các nước nghèo hoặc suy thoái, như Á Phi, là nhờ quyền lực ưu thế kinh tế chính trị của các nước Âu Mỹ, người dân theo lý tưởng mới thì ít mà phù thịnh thì nhiều, giả dụ Âu Mỹ mà yếu kém như Phi châu, suy thoái như Á châu tk 19, thì chắc mục vụ quốc tế không phát triển mạnh được. Hơn nữa các giáo sĩ Âu Mỹ cốt cách hồng hào to lớn phương phi, nhiều cố đạo để râu dài như ông già Noel, dễ chinh phục sắc tộc bộ lạc rừng núi chậm tiến, chẳng khác dân mọi rợ khi xưa trông thấy người da trắng hồng mao tưởng là thần thánh hiện xuống trần! Việc truyền giáo ngày nay, tuy cải tiến từ lối tầu chiến đe dọa (gunboats) xâm lược, nhưng thực tế vẫn là “ cải hóa dân đói sang dân đi đạo lấy gạo mà ăn” (turned famine victims into “rice Christians” ( 6), chưa kể các mối lợi khác như cấp thuốc men, quần áo,học bổng, du học…
Nhiều nhà truyền giáo, với ý chí sắt đá và tinh thần mạo hiểm sẵn có của người Tây phương, đã và đang tiến vào những nơi rừng thiêng nước độc để truyền đạo : ở Thái Lan, có các hội đoàn truyền giáo chuyên về người Thượng (như New Tribes) và trong nội bộ họ đặt ra những nhận định chiến lược : “ Dường như Phật giáo đang đánh mất sức lôi cuốn đối với dân Thái. Kinh tế khủng hoảng trong những năm gần đây đã tạo nên những cởi mở mới…Quyền năng Thượng đế đang chuyển động ở Thái, bóng tối đang tan đi, chưa bao giờ dẫn người Thái vào đạo Chúa lại dễ đến thế ! ( The power of God is moving in Thailand, the darkness is lifting over Thailand, it has never been so easy to lead a Thai person to Christ- Peter C. Wagner tại hội nghị 1996 trước 7000 con chiên – Băng Cốc) (5).
Ở Miến Ðiện, miền rừng núi Kachin, hầu hết dân Thượng được truyền đạo : 90,000 Catholics, hơn 1 triệu Baptists, các nhà truyền giáo tạo được 2 Giám mục và 42 linh mục người Thượng Kachin, mặc dầu từ năm 1962 chính phủ quân nhân Miến Ðiện đã cấm các đoàn truyền giáo ngoại quốc và đã đóng cửa các cơ sở nhà thờ. Các giáo sĩ cho rằng họ thành công vì dân Thượng Kachin cũng như các sắc tộc Thượng Ðông Nam Á khác, đều thờ vật thần (animists), khác với Phật giáo, họ tin vào một đấng tối cao, có thể vì thế mà họ dễ quy phục Thiên Chúa giáo! (4). Phương pháp truyền đạo linh động thích ứng với điều kiện địa phương hơn xưa : ở xứ Phật giáo, giám mục người Thượng Paul Grawng đã mời các sư sãi, các tu sĩ Hồi, Bà La Môn, quan nhân chính quyền và các lãnh tụ thiểu số Kachin ( từng nổi loạn chống đối nhà nước như vụ Tạ Văn Phụng, Fulro bên ta), tới dự lễ năm Thánh Church Jubilee Year 2001, giám mục Grawng đã quỳ gối dâng thức ăn chính ngọ cho các nhà sư để lấy lòng Phật giáo (4). Phía Công giáo thì dùng cách huyền nhiệm như tượng Ðức Mẹ khóc ra máu mắt ở Naju, khiến ngay một tín đồ Tin lành cũng cải đạo theo Catholic, một nữ y tá bị bệnh tiểu đường gần mù mắt, chỉ cầu Ðức Mẹ có một đêm mà hôm sau hết bệnh, mắt sáng ra! (4 ).
2-Nhìn vào lịch sử nước Hàn, việc cấm đạo có thể đã không xẩy ra nếu không có thực dân “gunboats” đe dọa và nếu các giáo sĩ Tây dương biết tìm hiểu kính trọng tôn giáo tập tục văn hóa bản xứ. Hai nước Á Ðông tránh được thực dân là Thái và Nhật, đều đồng thời tránh được làn sóng ngộp thở tôn giáo Tây phương. Thái khôn khéo đi với Anh để quân bình với Bồ, Pháp, vì Anh vốn không ưa Catholics La Mã. Ở Việt Nam năm 1803 sứ thần Anh Robert dâng phầm vật lên vua Gia Long xin mở hàng buôn bán ở Quảng Nam, vua ta từ chối, Anh quốc đưa thư hai ba lần không thành bèn bỏ đi (7), năm 1672- 1679 tầu Anh Zant đã tới giao thương ở Phố Hiến đời chúa Trịnh nhưng không tốt đẹp nên cũng bỏ đi… là những cơ hội quân bình hóa rất đáng tiếc cho Việt Nam trong lịch sử bang giao cận đại !
Nhật Bản mới đầu cũng không cấm cản Thiên chúa giáo : năm 1582 đời tướng quân Nobunaga đã có 200,000 con chiên và 250 nhà thờ, đời Hideyoshi vẫn chưa giết đạo đồ, năm 1587 số con chiên tăng lên 300,000 người, nhưng khi nghe chính thuyền trưởng tầu San Felipe của Tây Ban Nha đậu ở tỉnh Tosa nói rằng các giáo sĩ được gửi sang Nhật để sửa soạn chinh phục thì tướng quân Hideyoshi nổi giận và bắt đầu cấm đạo, giết tín đồ. Các Tướng quân kế tiếp, có lẽ có người Hòa Lan và Anh can dự, ra luật cấm Catholic vào năm 1614 đời Ieyasu Tokugawa (3). Cuộc diệt đạo Catholic tàn khốc xẩy ra từ năm 1622 được mô tả là chưa từng thấy trong giáo sử : năm 1637 hơn 37,000 giáo đồ cố thủ trong thành Shimbara bị tận diệt không còn một mống, năm 1640 bốn sứ thần Bồ Ðào Nha từ Macao tới Nagasaki bị buộc bỏ đạo, họ từ chối nên bị giết, còn lại 13 người trong đoàn được tha về Macao mang theo cảnh cáo “ Cho tới khi mặt trời còn chiếu ấm đất này, không một người Thiên chúa giáo nào được cả gan tới đây. Bá cáo cho mọi người đều biết. Ai bất tuân theo lệnh cấm, dù là vua xứ Tây Ban Nha, dù là Chúa của người Ky Tô giáo, dù là Bồ Tát, cũng phải mang đầu ra mà trả ” (While the sun warms the earth let no Christian be so bold as to enter into Japan. Let this be known to all men. Though it were the King of Spain in person or the God of the Christians or Shaka himself, whosoever will disobey this prohibition will pay for it with his head- Tham Khảo 3- mục Japan, p.22). Giáo sĩ cuối cùng bén mảng tới Nhật là một giáo sĩ người Ý, vào năm 1708, bị bỏ tù chung thân. Hơn 200 năm sau, đoàn truyền giáo Pháp trong Société des Missions Etrangères de Paris, mới lại tới Nhật vào 1844, và chờ đợi 14 năm ( rửa tội chui được 2 người Nhật), tới năm 1858 nhờ hiệp ước Nhật Pháp, mới được mở nhà thờ ở 3 hải cảng dành cho người ngoại quốc và không được đi sâu vào nội địa. Nhưng các nhà truyền giáo lại quá hăng say trong mục vụ nên năm 1867 Nhật lại cấm và diệt đạo, 4 vạn tín đồ ở Nagasaki bị phân tán lưu đầy vì từ chối bỏ đạo, hơn 1/3 bị chết , mãi tới năm 1878, vì ngoại giao với các nước Âu Mỹ, Nhật nới lỏng nhưng cũng chỉ cho các giáo sĩ vào sâu 10 dặm nội địa và phải có chiếu khán. Năm 1884, Nhật canh tân, ra luật bỏ quốc giáo, năm 1889 tân hiến pháp cho tự do tôn giáo, tuy vậy tới năm 1900 cũng chỉ có 62,694 người Nhật theo Catholic và 31,181 Tin lành ( sau lên tới 57,890, với đa số mục sư Mỹ), hiện tại Nhật đã Nhật hóa Thiên chúa giáo và con số Catholics ở mức 500,000 người tức 0.39% dân số. Có thể nói hai nước Thái, Nhật, đã có đủ thời gian đứng vững bảo vệ truyền thống trước khi tiếp thu văn hóa tôn giáo Tây phương, giữ được gốc, cả hai nước đều không mất bản sắc mà vẫn canh tân, mở cửa, phát triển ngang với Âu Mỹ. Tầu và Việt bị áp chế nghẹt thở trước làn sóng Tây phương, không đủ thời gian để bảo tồn gốc rễ và phát triển trên căn bản dân tộc, vì thế đã phân hóa, có nhóm phản kháng đi sang cực đoan tả phái Cọng Sản, có nhóm cực hữu thân Tây, còn nhóm cốt lõi dân tộc thì chịu cảnh trên đe dưới búa: đứng giữa không yên, hai phe quốc tế tả hay hữu, đều khinh thường dân tộc, phá nát mảnh đất tổ tiên.
Ở Việt Nam, một số dữ kiện chứng tỏ việc cấm đạo giết giáo sĩ chỉ xẩy ra sau khi vua chúa ta đã dùng nhân đạo nhu sách : như đời chúa Sãi, giáo sĩ Busomi, giáo sĩ Jean Rhodes, được giảng đạo và lập nhà thờ ngay tại Phú Xuân (1615- 1624), chúa Trịnh, nhận quà đồng hồ quả lắc, cho giáo sĩ giảng đạo ngay tại Thăng Long (1626). Ðời Minh Mệnh 1825 giáo sĩ khắp nước bị nhà vua tập trung về Huế để dịch sách hòng ngăn ngừa việc truyền đạo đang chia rẽ phân hóa dân tộc : “ dần dần người trong nước phân ra bên lương bên giáo, ghen ghét nhau hơn người cừu địch” ( VN Sử Lược- Trần Trọng Kim quyển II tr. 100), năm 1838 nhà vua thấy ngoài thì tầu chiến, trong thì hàng đoàn giáo sĩ ngoại quốc hoạt động ráo riết như chỗ không người, cấm không được, giết không xong, bèn sai sứ sang Pháp để điều đình về việc ấy, nhưng chính hội truyền giáo Missions Etrangères Pháp ngăn cản không cho vua Louis Philippe tiếp sứ. (VN Sử Lược tr. 228). Cho nên sau này, dù hòa ước 1862 nước ta đã nhượng bộ nhiều, vừa mất đất vừa phải cho giáo sĩ Pháp, I Pha Nho tự do truyền đạo, vừa phải trả 4 triệu nguyên chiến phí, việc vẫn căng thẳng, một bên Pháp chủ ý chiếm đất chiếm dân, một bên vua quan ta cố giữ chủ quyền với văn hóa truyền thống, cho nên sau khi tên đại úy Francis Garnier đánh lấy Hà Nội với nội công chỉ điểm là nhóm giáo dân, thì 3000 văn thân Hà Tĩnh Nghệ An, đã truyền hịch Bình Tây Sát Tả, đốt phá các làng đạo. Việc giết đạo đồ tuy dã man nhưng cần được đặt trong bối cảnh thời gian phong kiến chuyên chế : bên Nhật các sứ quân lãnh chúa mỗi lần đánh nhau đều giết sạch phe địch, kể cả đàn bà trẻ con dòng họ đối kháng, bên ta Nguyễn Trãi từng bị tru di tam tộc, Cao Bá Quát khởi nghĩa bị chém bêu đầu…không phải chỉ riêng giáo dân mới chịu hình phạt như vậy.
*
Tôn giáo là cốt tủy của văn hóa, là mạch máu của chủng tộc, là não bộ của quốc gia. Một nước thiếu thuần nhất chủng tộc mà có chung tôn giáo thì vẫn gắn bó keo sơn được, keo sơn như các nước Hồi giáo, Ấn Ðộ giáo, các nước Âu, Mỹ Thiên Chúa giáo…Nhật Bản với Thần đạo và Thiền sản ra những Samurai bất khuất, nước Việt ta đời Lý Trần, thuần nhất tinh thần, sản ra vô vàn anh hùng hào kiệt, toàn dân đúc thành một khối, Mông Cổ cũng phải tan. Cho nên việc dựng nước, giữ nước, cốt yếu ưu tiên là gây dựng thế sâu rễ bền gốc, tạo một căn bản thuần hòa dân tâm, nhiên hậu mới nói chuyện cường thịnh được.
Việt Nam và Tầu với văn hóa Phật, Khổng, Thần, thờ cúng tổ tiên..tuy cao cả khoan dung nhưng tổ chức lỏng lẻo, lại không có tài nguyên yểm trợ quốc tế, nên nhiều ý hệ và tôn giáo mới lọt vào cạnh tranh, từ duy tâm tới duy vật. Phật giáo từng bị xóa mờ ở ngay trên đất Ấn, từng bị Hồi giáo xâm lấn Phật địa Borobudur ở Java, tượng Phật bị phá ở A Phú Hãn…cho nên tuy các tôn giáo đều nói là cứu độ nhân quần, đều hướng Thiện, nhưng nhiều người cùng thích một mối Thiện, nên rút cuộc xô xát, tranh dành, chuyện cao hóa thành chuyện thấp, chuyện tiên trở thành chuyện tục, chuyện lành trở thành chuyện ác. Người Tây phương, năng động, hoạt động, nên dễ đi tới chỗ náo động toàn cầu, chưa kể mặc cảm tự tôn cái gì của mình cũng cho là cao, là đúng, sản phẩm không chắc là tốt, như thuốc lá, đã ào ạt tung ra xuất cảng bắt xứ khác phải “nuốt” kể cả sản phẩm tâm linh! Hiện nay, nhìn theo lăng kính tôn giáo, chính tình Á đông vẫn do mâu thuẫn tôn giáo tạo ra : Tầu giữ Tây Tạng vì cao nguyên Tây Tạng là cổng ngõ chiến lược mặt Tây, hội truyền giáo Missions Etrangères de Paris khi xưa đã từng ghi tên Tầu-Tây Tạng vào lịch trình truyền giáo Missions of China and Tibet, (3).
Bắc Hàn, Việt Nam cũng vậy, trong thế tranh chấp quyền lực với Tây phương nên rất đa nghi diễn tiến “tôn giáo”, các sắc tộc vùng Cao nguyên Trung phần, Bắc phần, Lào, Miến Ðiện, lọt vào địa bàn của các nhà truyền giáo Âu Mỹ, đang là những điểm nóng cấy quanh Viễn đông. Ấn và Hồi tranh chấp vì tín ngưỡng suốt từ thời thánh Gandhi nằm xuống, Tích Lan loạn vì nhóm Tamil tranh chấp với nhóm đa số Phật giáo …cho nên hoạt động tôn giáo trên thế gian phần nhiều là sinh hoạt thế tục hình nhi hạ che phủ bằng hào quang thần thánh hình nhi thượng mà thôi.
THAM KHẢO :
Các số chú thích trong bài tương ứng với tài liệu tham khảo sau đây:
1- History of Christianity in Korea: From Its Troubled Beginning to Its Contemporary Success- by Andrew E.Kim- Source: Korea Overseas Information Service.
2- Looking For God In the Streets of Seoul-The Resurrgence of Religion in 20th Century Korea by Don Baker, professor Dpt of Asian Studies, Director-Korean Research- Uni. of British Columbia- Harvard Asia Quarterly Autumn 2001. Số thống kê hơi khác với tài liệu trên.
3- Catholic Encyclopedia các mục : Society of Foreign Missions of Paris- Japan- Siam. Thống kê : Catholics in Asia của Annuarium Statisticum Ecclesiae 1996 pp- 37. Có website.
4- Maryknoll Magazine 8- 2001 bài Brigadoon in Burma và Marys-Touch, Newsletter bài Miracles in Lashio, Burma, 3- 11- 99. Websites. Bài về Brigadoon của J.Beeching, nhà truyền giáo ở Victoria Canada, có đoạn viết rất sai lạc về Phật giáo : “ The hill tribe people throughout Southeast Asia are animists who, unlike Buddhists, believe in a supreme being. Perhaps they have readily embraced Christianity for this reason-” p. 1 – Phật, Khổng, Lão không phải là vô thần ( atheist) mà là kính nhi viễn chi, bất khả tư nghị, không để thần quyền supreme being đè nặng đời sống nhân chủ (non-theist). Vả lại nếu các bộ lạc đã có supreme being rồi thì tại sao lại cần thay thế bằng một supreme mới từ xa đến ?
5- Thailand National Office Website-Religious History của Youth With a Mission. Rõ ràng là chiến lược tìm khâu yếu để xâm lấn, không khác thời xưa. Xứ Thái hơn 90% là Phật giáo mà các ngài truyền giáo chê là “ darkness” thì quả là vô lễ và vô minh, không khác thời Trung cổ, ai nói trái đất tròn là bị lên án!
6- Newsweek –A special report : The New China số June 19- 1998, bài Jesus is All the World to Me, by G. Wehrfritz và Lynette Clemetson, tr. 36- 39.
7- Việt Nam Sử Lược, Trần Trọng Kim- VN Văn Hóa Sử Cương, Ðào Duy Anh.

Phật Đài-Lantau, Hồng Kông.
-
37.297764
-121.808529