Quán Cà Phê Tao Đàn

Nơi nào có nhiều quán, nơi ấy nhiều thi nhân
Nơi nào nhiều thi nhân, nơi ấy thất nghiệp cao.

Góc phố Cannes-Pháp

Vá Trời

Những toan đội đá vá Trời

Nào ngờ Trời rách bời bời thành mây

Lang thang nhặt nhạnh đầy tay

Lá thu vàng úa kiếp này buông rơi.

 

5-2012

Đại Tây Dương

 

 

Chim Cụt Cánh

Chim cụt cánh, nhìn Trời ngơ ngác

Xuống địa cầu, lạnh lẽo làm chi ?

Tuyết rơi trắng xoá lạ kỳ !

Đêm xanh đôi mắt hồ ly buốt hồn.

Mozart hồn nhạc lơ lửng trên Trời-Vienna 2006

Hướng Nào ?

Nam Vang-Rắn chín đầu

 

Trời ném ta

Xuống giải đất cong queo

Mỗi người đi một nẻo

Năm châu tứ xứ

Lẽo đẽo hành trang nghèo.

Bất Mãn

Thiên thủ thiên nhãn

Ghét người, chính là ghét mình

Yêu người, chính là yêu mình

 

Trầm lặng là dấu hiệu nổi bật của Tu hành

Ba hoa là con đường ngắn nhất xuống Địa ngục

Niềm vui Thanh Tĩnh

Hơn mọi hý luận lạc thú nhân sinh.

 

Tháp Nghiêng PISA ở Ý-Thời gian đè nặng công trình đội đá vá trời.

Pisa tower, fragile beauty draws tourists to visit.

TÔN GIÁO nhìn quanh Á Đông

1-   Ở Á Ðông, hai nước đông đảo tín đồ Catholics nhất là Phi Luật Tân, 83.09% dân số, và Việt Nam, 7.94% dân số ( 3). Phi bị Tây Ban Nha đô hộ suốt 350 năm, từ tk 16 tới 19, nên Catholics chiếm đa số, mãi tới năm 1899 khi chuyển qua tay Mỹ, số theo Tin lành mới tăng lên khoảng 10%, riêng đảo Mindanao, Hồi giáo vẫn còn cố thủ. Ở Việt Nam, thời 1930- 40, số Catholics khoảng 1.2 triệu người, tức 6% dân số trong 20 triệu dân ( VNVHSC tr. 224- Ðào Duy Anh) sau 70 năm tăng lên 8% dân số (trong 75 triệu dân -thống kê 1996), Tin lành khoảng 1 vạn người nay chắc cũng tăng lên nhiều nhất là vùng Cao nguyên sắc tộc Thượng. Tính toàn cõi Á châu 3.5 tỷ người thì có 103 triệu người Catholics tức 2.94% ( 3).

Nhìn chung, trong những tk 17- 19, khi các nước Bồ Ðào Nha, Tây Ban Nha, Pháp…còn mạnh và ráo riết truyền giáo thì Catholic bành trướng, trong khi Tin lành sau này lan theo làn sóng thế lực Hoa Kỳ và khối Bắc Âu, Gia Nã Ðại, Úc…Riêng đế quốc Anh, với Anh giáo và đã tách rời La Mã, đã cấm Công giáo suốt mấy thế kỷ (từ 1531 thoát ly Vatican, cấm Catholic từ 1673 tới 1829 mới nới lỏng), nên khi đi chiếm nước khác, Anh thường chú trọng về thương mại hơn là về truyền giáo. Ở Ấn, ở Miến Ðiện, Mã Lai, Singapore, Hồng Kông, tôn giáo bản xứ gần như còn nguyên vẹn, Miến Ðiện có 1.2% Catholics và Ấn có 1.8% Catholics. Ở Thái trong khi người Bồ Ðào Nha, Pháp… tập trung vào việc truyền đạo thì Anh ngay từ 1612 chỉ chú trọng tới việc xây hãng xưởng chứ không xây nhà thờ! ( English traders who arrived in 1612 for the East India Company were more interested in building a factory than a church ) (5). Thống kê Tin lành ở Á châu không rõ rệt, riêng ở Trung Hoa lục địa, từ 1970 tới 1998, số người được rửa tội có thể lên tới 50 triệu, gồm 37,000 nhà thờ nhà họp Công giáo và Tin lành, phân phát 22 triệu cuốn Thánh kinh, trong khi nhà nước đưa ra con số nhỏ hơn nhiều : 6 triệu Tin lành, 4 triệu Catholics ( 6). Tin lành , nhất là Tin lành Mỹ đã đi vào Tầu với “ một túi bạc lớn” ( Christians who appear with bags full of money- Nicholas Young) (6), mua chuộc quân cán địa phương, dùng phương pháp mới như mở lớp dậy Anh ngữ che đậy việc truyền giáo (TEAM= Teaching English as Ministry), hoạt động từ thiện…Hội truyền giáo Ðại học ( United Board for Christian Higher Education in Asia) liên lạc với hơn 100 viện Ðại học Trung quốc và chi phí tới 15 triệu MK.. Nói khác đi, Thiên Chúa giáo trong mấy thế kỷ nay truyền bá mạnh khắp năm châu, nhất là ở các nước nghèo hoặc suy thoái, như Á Phi, là nhờ quyền lực ưu thế kinh tế chính trị của các nước Âu Mỹ, người dân theo lý tưởng mới thì ít mà phù thịnh thì nhiều, giả dụ Âu Mỹ mà yếu kém như Phi châu, suy thoái như Á châu tk 19, thì chắc mục vụ quốc tế không phát triển mạnh được. Hơn nữa các giáo sĩ Âu Mỹ cốt cách hồng hào to lớn phương phi, nhiều cố đạo để râu dài như ông già Noel, dễ chinh phục sắc tộc bộ lạc rừng núi chậm tiến, chẳng khác dân mọi rợ khi xưa trông thấy người da trắng hồng mao tưởng là thần thánh hiện xuống trần! Việc truyền giáo ngày nay, tuy cải tiến từ lối tầu chiến đe dọa (gunboats) xâm lược, nhưng thực tế vẫn là “ cải hóa dân đói sang dân đi đạo lấy gạo mà ăn” (turned famine victims into “rice Christians” ( 6), chưa kể các mối lợi khác như cấp thuốc men, quần áo,học bổng, du học…

Nhiều nhà truyền giáo, với ý chí sắt đá và tinh thần mạo hiểm sẵn có của người Tây phương, đã và đang tiến vào những nơi rừng thiêng nước độc để truyền đạo : ở Thái Lan, có các hội đoàn truyền giáo chuyên về người Thượng (như New Tribes) và trong nội bộ họ đặt ra những nhận định chiến lược : “ Dường như Phật giáo đang đánh mất sức lôi cuốn đối với dân Thái. Kinh tế khủng hoảng trong những năm gần đây đã tạo nên những cởi mở mới…Quyền năng Thượng đế đang chuyển động ở Thái, bóng tối đang tan đi, chưa bao giờ dẫn người Thái vào đạo Chúa lại dễ đến thế ! ( The power of God is moving in Thailand, the darkness is lifting over Thailand, it has never been so easy to lead a Thai person to Christ- Peter C. Wagner tại hội nghị 1996 trước 7000 con chiên – Băng Cốc) (5).

Miến Ðiện, miền rừng núi Kachin, hầu hết dân Thượng được truyền đạo : 90,000 Catholics, hơn 1 triệu Baptists, các nhà truyền giáo tạo được 2 Giám mục và 42 linh mục người Thượng Kachin, mặc dầu từ năm 1962 chính phủ quân nhân Miến Ðiện đã cấm các đoàn truyền giáo ngoại quốc và đã đóng cửa các cơ sở nhà thờ. Các giáo sĩ cho rằng họ thành công vì dân Thượng Kachin cũng như các sắc tộc Thượng Ðông Nam Á khác, đều thờ vật thần (animists), khác với Phật giáo, họ tin vào một đấng tối cao, có thể vì thế mà họ dễ quy phục Thiên Chúa giáo! (4). Phương pháp truyền đạo linh động thích ứng với điều kiện địa phương hơn xưa : ở xứ Phật giáo, giám mục người Thượng Paul Grawng đã mời các sư sãi, các tu sĩ Hồi, Bà La Môn, quan nhân chính quyền và các lãnh tụ thiểu số Kachin ( từng nổi loạn chống đối nhà nước như vụ Tạ Văn Phụng, Fulro bên ta), tới dự lễ năm Thánh Church Jubilee Year 2001, giám mục Grawng đã quỳ gối dâng thức ăn chính ngọ cho các nhà sư để lấy lòng Phật giáo (4). Phía Công giáo thì dùng cách huyền nhiệm như tượng Ðức Mẹ khóc ra máu mắt ở Naju, khiến ngay một tín đồ Tin lành cũng cải đạo theo Catholic, một nữ y tá bị bệnh tiểu đường gần mù mắt, chỉ cầu Ðức Mẹ có một đêm mà hôm sau hết bệnh, mắt sáng ra! (4 ).

2-Nhìn vào lịch sử nước Hàn, việc cấm đạo có thể đã không xẩy ra nếu không có thực dân “gunboats” đe dọa và nếu các giáo sĩ Tây dương biết tìm hiểu kính trọng tôn giáo tập tục văn hóa bản xứ. Hai nước Á Ðông tránh được thực dân là Thái và Nhật, đều đồng thời tránh được làn sóng ngộp thở tôn giáo Tây phương. Thái khôn khéo đi với Anh để quân bình với Bồ, Pháp, vì Anh vốn không ưa Catholics La Mã. Ở Việt Nam năm 1803 sứ thần Anh Robert dâng phầm vật lên vua Gia Long xin mở hàng buôn bán ở Quảng Nam, vua ta từ chối, Anh quốc đưa thư hai ba lần không thành bèn bỏ đi (7), năm 1672- 1679 tầu Anh Zant đã tới giao thương ở Phố Hiến đời chúa Trịnh nhưng không tốt đẹp nên cũng bỏ đi… là những cơ hội  quân bình hóa rất đáng tiếc cho Việt Nam trong lịch sử bang giao cận đại !

Nhật Bản mới đầu cũng không cấm cản Thiên chúa giáo : năm 1582 đời tướng quân Nobunaga đã có 200,000 con chiên và 250 nhà thờ, đời Hideyoshi  vẫn chưa giết đạo đồ, năm 1587 số con chiên tăng lên 300,000 người, nhưng khi nghe chính thuyền trưởng tầu San Felipe của Tây Ban Nha đậu ở tỉnh Tosa nói rằng các giáo sĩ được gửi sang Nhật để sửa soạn chinh phục thì tướng quân Hideyoshi nổi giận và bắt đầu cấm đạo, giết tín đồ. Các Tướng quân kế tiếp, có lẽ có người Hòa Lan và Anh can dự, ra luật cấm Catholic vào năm 1614 đời  Ieyasu Tokugawa (3). Cuộc diệt đạo Catholic tàn khốc xẩy ra từ năm 1622 được mô tả là chưa từng thấy trong giáo sử :  năm 1637 hơn 37,000 giáo đồ cố thủ trong thành Shimbara bị tận diệt không còn một mống, năm 1640 bốn sứ thần Bồ Ðào Nha từ Macao tới Nagasaki bị buộc bỏ đạo, họ từ chối nên bị giết, còn lại 13 người trong đoàn được tha về Macao mang theo cảnh cáo “ Cho tới khi mặt trời còn chiếu ấm đất này, không một người Thiên chúa giáo nào được cả gan tới đây. Bá cáo cho mọi người đều biết. Ai bất tuân theo lệnh cấm, dù là vua xứ Tây Ban Nha, dù là Chúa của người Ky Tô giáo, dù là Bồ Tát, cũng phải mang đầu ra mà trả ” (While the sun warms the earth let no Christian be so bold as to enter into Japan. Let this be known to all men. Though it were the King of Spain in person or the God of the Christians or Shaka himself, whosoever will disobey this prohibition will pay for it with his head- Tham Khảo 3- mục Japan, p.22). Giáo sĩ cuối cùng bén mảng tới Nhật là một giáo sĩ người Ý, vào năm 1708, bị bỏ tù chung thân. Hơn 200 năm sau, đoàn truyền giáo Pháp trong Société des Missions Etrangères de Paris, mới lại tới Nhật  vào 1844, và chờ đợi 14 năm ( rửa tội chui được 2 người Nhật), tới năm 1858 nhờ hiệp ước Nhật Pháp, mới được mở nhà thờ ở 3 hải cảng  dành cho người ngoại quốc và không được đi sâu vào nội địa. Nhưng các nhà truyền giáo lại quá hăng say trong mục vụ nên năm 1867 Nhật lại cấm và diệt đạo, 4 vạn tín đồ ở Nagasaki bị phân tán lưu đầy vì từ chối bỏ đạo, hơn 1/3 bị chết , mãi tới năm 1878, vì ngoại giao với các nước Âu Mỹ, Nhật nới lỏng nhưng cũng chỉ cho các giáo sĩ vào sâu 10 dặm nội địa và phải có chiếu khán. Năm 1884, Nhật canh tân, ra luật bỏ quốc giáo, năm 1889 tân hiến pháp cho tự do tôn giáo, tuy vậy tới năm 1900 cũng chỉ có 62,694 người Nhật theo Catholic và 31,181 Tin lành ( sau lên tới 57,890, với đa số mục sư  Mỹ), hiện tại Nhật đã Nhật hóa Thiên chúa giáo và con số Catholics ở mức 500,000 người tức 0.39% dân số. Có thể nói hai nước Thái, Nhật, đã có đủ thời gian đứng vững bảo vệ truyền thống trước khi tiếp thu văn hóa tôn giáo Tây phương, giữ được gốc, cả hai nước đều không mất bản sắc mà vẫn canh tân, mở cửa, phát triển ngang với Âu Mỹ. Tầu và Việt bị áp chế nghẹt thở trước làn sóng Tây phương, không đủ thời gian để bảo tồn gốc rễ và phát triển trên căn bản dân tộc, vì thế đã phân hóa, có nhóm phản kháng đi sang cực đoan tả phái Cọng Sản, có nhóm cực hữu thân Tây, còn nhóm cốt lõi dân tộc thì chịu cảnh trên đe dưới búa: đứng giữa không yên, hai phe quốc tế tả hay hữu, đều khinh thường dân tộc, phá nát mảnh đất tổ tiên.

Việt Nam, một số dữ kiện chứng tỏ việc cấm đạo giết giáo sĩ chỉ xẩy ra sau khi vua chúa ta đã dùng nhân đạo nhu sách : như đời chúa Sãi, giáo sĩ Busomi, giáo sĩ Jean Rhodes, được giảng đạo và lập nhà thờ ngay tại Phú Xuân (1615- 1624), chúa Trịnh, nhận quà đồng hồ quả lắc, cho giáo sĩ giảng đạo ngay tại Thăng Long (1626).  Ðời Minh Mệnh 1825 giáo sĩ  khắp nước bị nhà vua tập trung về Huế để dịch sách hòng ngăn ngừa việc truyền đạo đang chia rẽ phân hóa dân tộc :  “ dần dần người trong nước phân ra bên lương bên giáo, ghen ghét nhau hơn người cừu địch” ( VN Sử Lược- Trần Trọng Kim quyển II tr. 100), năm 1838 nhà vua thấy ngoài thì tầu chiến, trong thì hàng đoàn giáo sĩ ngoại quốc hoạt động ráo riết như chỗ không người, cấm không được, giết không xong, bèn sai sứ sang Pháp để điều đình về việc ấy, nhưng chính hội truyền giáo Missions Etrangères Pháp ngăn cản không cho vua Louis Philippe tiếp sứ. (VN Sử Lược tr. 228). Cho nên sau này,  dù hòa ước 1862 nước ta đã nhượng bộ nhiều, vừa mất đất vừa phải cho giáo sĩ Pháp, I Pha Nho tự do truyền đạo, vừa phải trả 4 triệu nguyên chiến phí, việc vẫn căng thẳng, một bên Pháp chủ ý chiếm đất chiếm dân, một bên vua quan ta cố giữ chủ quyền với văn hóa truyền thống, cho nên sau khi tên đại úy Francis Garnier đánh lấy Hà Nội với nội công chỉ điểm là nhóm giáo dân, thì 3000 văn thân Hà Tĩnh Nghệ An, đã truyền hịch Bình Tây Sát Tả, đốt phá các làng đạo. Việc giết đạo đồ tuy dã man nhưng cần được đặt trong bối cảnh thời gian phong kiến chuyên chế : bên Nhật các sứ quân lãnh chúa mỗi lần đánh nhau đều giết sạch phe địch, kể cả đàn bà trẻ con dòng họ đối kháng, bên ta Nguyễn Trãi từng bị tru di tam tộc, Cao Bá Quát khởi nghĩa bị chém bêu đầu…không phải chỉ riêng giáo dân mới chịu hình phạt như vậy.

*

Tôn giáo là cốt tủy của văn hóa, là mạch máu của chủng tộc, là não bộ của quốc gia. Một nước thiếu thuần nhất chủng tộc mà có chung tôn giáo thì vẫn gắn bó keo sơn được, keo sơn như các nước Hồi giáo, Ấn Ðộ giáo, các nước Âu, Mỹ Thiên Chúa giáo…Nhật Bản với Thần đạo và Thiền sản ra những Samurai bất khuất, nước Việt ta đời Lý Trần, thuần nhất tinh thần, sản ra vô vàn anh hùng hào kiệt, toàn dân đúc thành một khối, Mông Cổ cũng phải tan. Cho nên việc dựng nước, giữ nước, cốt yếu ưu tiên là gây dựng thế sâu rễ bền gốc, tạo một căn bản thuần hòa dân tâm, nhiên hậu mới nói chuyện cường thịnh được.

Việt Nam và Tầu với văn hóa Phật, Khổng, Thần, thờ cúng tổ tiên..tuy cao cả khoan dung nhưng tổ chức lỏng lẻo, lại không có tài nguyên yểm trợ quốc tế, nên nhiều ý hệ và tôn giáo mới lọt vào cạnh tranh, từ duy tâm tới duy vật. Phật giáo từng bị xóa mờ ở ngay trên đất Ấn, từng bị Hồi giáo xâm lấn Phật địa Borobudur ở Java, tượng Phật bị phá ở A Phú Hãn…cho nên tuy các tôn giáo đều nói là cứu độ nhân quần, đều hướng Thiện, nhưng nhiều người cùng thích một mối Thiện, nên rút cuộc xô xát, tranh dành, chuyện cao hóa thành chuyện thấp, chuyện tiên trở thành chuyện tục, chuyện lành trở thành chuyện ác. Người Tây phương, năng động, hoạt động, nên dễ đi tới chỗ náo động toàn cầu, chưa kể mặc cảm tự tôn cái gì của mình cũng cho là cao, là đúng, sản phẩm không chắc là tốt, như thuốc lá, đã ào ạt tung ra xuất cảng bắt xứ khác phải “nuốt” kể cả sản phẩm tâm linh! Hiện nay, nhìn theo lăng kính tôn giáo, chính tình Á đông vẫn do mâu thuẫn tôn giáo tạo ra : Tầu giữ Tây Tạng vì cao nguyên Tây Tạng là cổng ngõ chiến lược mặt Tây, hội truyền giáo Missions Etrangères de Paris khi xưa đã từng ghi tên Tầu-Tây Tạng vào lịch trình truyền giáo Missions of China and Tibet, (3).

Bắc Hàn, Việt Nam cũng vậy,  trong thế tranh chấp quyền lực với Tây phương  nên rất đa nghi diễn tiến  “tôn giáo”, các sắc tộc vùng Cao nguyên Trung phần, Bắc phần, Lào, Miến Ðiện, lọt vào địa bàn của các nhà truyền giáo Âu Mỹ, đang là những điểm nóng cấy quanh Viễn đông. Ấn và Hồi tranh chấp vì tín ngưỡng suốt từ thời thánh Gandhi nằm xuống, Tích Lan loạn vì nhóm Tamil tranh chấp với nhóm đa số Phật giáo …cho nên hoạt động tôn giáo trên thế gian phần nhiều là sinh hoạt thế tục hình nhi hạ che phủ bằng hào quang thần thánh hình nhi thượng mà thôi.

THAM KHẢO :

Các số chú thích trong bài tương ứng  với tài liệu tham khảo sau đây:

1-    History of Christianity in Korea: From Its Troubled Beginning to Its Contemporary Success- by Andrew E.Kim- Source: Korea Overseas Information Service.

2-    Looking For God In the Streets of Seoul-The Resurrgence of Religion in 20th Century Korea by Don Baker, professor Dpt of Asian Studies, Director-Korean Research- Uni. of British Columbia- Harvard Asia Quarterly Autumn 2001. Số thống kê hơi khác với tài liệu trên.

3-    Catholic Encyclopedia các mục : Society of Foreign Missions of Paris- Japan- Siam. Thống kê : Catholics in Asia của Annuarium Statisticum Ecclesiae 1996 pp- 37. Có website.

4-    Maryknoll Magazine 8- 2001 bài Brigadoon in Burma và Marys-Touch, Newsletter bài Miracles in Lashio, Burma, 3- 11- 99. Websites. Bài về Brigadoon của J.Beeching,  nhà truyền giáo ở Victoria Canada, có đoạn viết rất sai lạc về Phật giáo : “ The hill tribe people throughout Southeast Asia are animists who, unlike Buddhists, believe in a supreme being. Perhaps they have readily embraced Christianity for this reason-” p. 1 – Phật, Khổng, Lão không phải là vô thần ( atheist) mà là kính nhi viễn chi, bất khả tư nghị, không để thần quyền  supreme being đè nặng  đời sống  nhân chủ (non-theist). Vả lại nếu các bộ lạc đã có supreme being rồi thì tại sao lại cần thay thế bằng một supreme mới từ xa đến ?

5-    Thailand National Office Website-Religious History của Youth With a Mission. Rõ ràng là chiến lược tìm khâu yếu để xâm lấn, không khác thời xưa. Xứ Thái hơn 90% là Phật giáo mà các ngài truyền giáo chê là “ darkness” thì quả là vô lễ và vô minh, không khác thời Trung cổ, ai nói trái đất tròn là bị lên án!

6-    Newsweek –A special report : The New China số June 19- 1998, bài  Jesus is All the World to Me, by G. Wehrfritz và Lynette Clemetson, tr. 36- 39.

7-    Việt Nam Sử Lược, Trần Trọng Kim- VN Văn Hóa Sử Cương, Ðào Duy Anh.

Phật Đài-Lantau, Hồng Kông.

-

CON RỐI

Bao nhiêu cái đầu

Bấy nhiêu con rối

Thế nhân là thế

Sống trong giấc mê

Mộng du chốc lát

Buông tay ra về !

CAO BÁ QUÁT : Bậc Thầy Tư Tưởng Hiện Sinh !

CBQ :  bậc thầy Hiện Sinh

 

CBQ đi trước tư tưởng Hiện sinh Albert Camus và JP Sartre cả một thế kỷ. Thập niên 1940-50, trào lưu Hiện sinh Âu châu thường nhắc tới câu nói của Camus: Tất cả mọi cố gắng đều vô ích-Tous les efforts sont inutiles, hay Tôi chống đối tôi mới thật là Tôi-Je révolte,donc je suis, hoặc nhấn mạnh tới công dã tràng của con người : Le Myth de Sisyphes, huyền thoại một người đẩy tảng đá lên cao, hòn đá lăn xuống, lại cố công đẩy lên…

Ngay từ thập niên 1840 CBQ đã nhắc tới một huyền thoại Đông phương tương tự :

Ta những muốn chắp đôi cánh nhẹ

Bay vút tầng khói tía mênh mang

Ngô tiên gặp gỡ giữa đàng

Đứng bên cây quế dịu dàng vẫy tay

Vừa thấy nhau đậm đà trò chuyện

Dường vì ta giở đến kiếp xưa

Nói thầm nghe chẳng nhớ ra

Cùng nhau từ ngọn gió hoà chia tay…

(trích Đêm Rằm Tháng 6 dưới trăng viết gửi bạn-Vũ Mộng Hùng dịch)

 

Huyền thoại ông tiên Ngô Cương đời Hán phạm lỗi bị đày lên cung Quảng đẵn cây quế bất tử, vừa đẵn xong thì thân cây lại mọc liền  ra  như cũ…hay chuyện lão Ngu Công 90 tuổi còn ngày ngày đập đá rời núi chắn ngang nhà, hay con chim Tinh Vệ, hồn công chúa Nữ Oa con gái Viêm Đế chết đuối, quyết tha đá núi Nam về lấp đầy biển Đông :

Cá lạnh sóng êm buồn đớp bóng

Chim cao trăng sáng vẫn ngờ cung

…Tinh Vệ hoài công tha đá mãi

Nực cười dời núi chuyện Ngu Công

( Ngày Thanh Minh hoạ thơ- Vũ Mộng Hùng dịch)

Con người cố gắng trong bơ vơ như đi giữa bãi cát mênh mông : Tiến mà như lùi, càng đi càng tưởng vẫn đứng ỳ một chỗ (Sa Hành- Cùng đồ ca), chí dời núi lấp biển phải chăng chỉ là giấc mơ lớn của thân phận nhỏ nhoi con người ?

Cái Ta bất trắc, nhân sinh phù du, chuyển hoá từng giây : sau khi ở tù ra, CBQ làm bữa rượu mời bạn, gọi là Tiệc sinh nhật kiếp này của Mẫn Hiên, may là không chết, nhưng ta chẳng là ta khi trước nữa ! J.Paul Sartre, triết gia Pháp, cũng nhìn cuộc sống  như một chuỗi các biến cố phi lý, hiện sinh đáng buồn nôn ( Nausée)

Cuộc sống như tuồng kịch, chẳng thấy đâu chân diện mục ( Xuất thế khởi vô chân diện mục-Thơ Xem Người Tầu/Thanh diễn kịch)

Cuộc sống là quán trọ ưu tư :

CBQ viết trong bài ca trù :

      Nhân sinh thiên địa gian nhất nghịch lữ : đời người trong trời đất như quán trọ, như bóng sổ, như gang tay…

Và nhắc lại ý đó trong bài Gặp Người Đói :

Sống là quán trọ triền miên

                        Chẳng ai thư thái an nhiên suốt đời

             

Giống mối hận chết đuối của chim Tinh Vệ, toàn lo âu triền miên sợ Trời xập trên đầu của anh chàng nước Kỷ :

      Văn chương Tinh Vệ hận

      Thân thế Kỷ nhân ưu

 

 Image

DA ĐỊA CẦU

Mặt biển nhăn nheo, da địa cầu

Vạn năm trôi nổi, sóng về đâu ?

Ngơ ngác bạc đầu phơi nắng gió

Tay ai đang vẽ cuộc bể dâu ?

 

NHẶT NHẠNH TỪNG MẢNG ĐẦU THÁNH QUÁT

Image   

PHÓNG TRÍCH DỊCH        

            Mắt nhìn ngày tháng âm u

            Đất trời có một gã tù làm thơ

            Thiên địa nhất thi tù

                                           Thi Tù độc dạ cảm hoài

 

            Ước gông làm bậc thang mây

            Ta leo gió thoát đoạ đầy trần gian

                                                          (vịnh cái gông dài)

 

            Vì ta bạn lạy ban thờ

            Ức Trai, Tiều Ẩn xin nhờ tri âm

            Bệnh điên ta giả người câm

            Tuổi già truyền hịch âm thầm lòng riêng !

                                                      ( thơ tiễn Trúc Khê và gửi bạn già Lê Hy Vĩnh )

 

 

            Sống là quán trọ triền miên

            Chẳng ai thư thái an nhiên suốt đời

Du du nghịch lữ trung

Bách niên thuỳ tự khoan

                                                    Đạo phùng ngạ phu (Giữa đường gặp người đói).

 

            Dòng sông uốn giải lụa đào

            Giai nhân khoác cánh lượn vào trời xanh

            Núi tròn chén biếc rượu sành

            Khách thơ tuý luý nâng vành môi say  

                                                                                 Dọc đường Ninh Bình

 

Muốn trèo lên đỉnh núi cao

Hát vang gửi tấm lòng vào gió mây

                                                                   

            Đêm qua gió lộng Thuận An

            Hải đài sấm sét tiếng ngàn quân vang

            Thiên thu hùng khí Chu Lang

            Đuổi tầu Tây chạy lửa vàng hoả công  

 

            Bài Ca Đường Cùng ( Cùng Đồ Ca)

 

Cát dài, cát dài, biết tính sao đây

Đường dễ thì mù mịt

Đường khó lại hàng hàng

Nghe ta hát khúc vang vang đường cùng!

Cát dài lại bãi cát dài

Tiến lên một bước, bước hoài tưởng lui !

 

 

Mười năm chọn bạn tâm giao

Khó như cổ kiếm tìm trao tay mình

Cúi đầu sùng bái, bình sinh

Hoa mai cao quý nở tình trắng trong

Thập tải luân giao cầu cổ kiếm

Nhất sinh đê thủ bái mai hoa

 

Thử ném hột mai lên đỉnh núi

Gieo giống thanh tao vách đá lành

Sau này mọc một bức tranh

Cho người thưởng lãm xuân xanh tuỵêt vời.   

 

Chim cất cánh bay xa còn hót

Chúc khách đi hoa nở cuối mùa

Hoành sơn cỏ dại tiễn đưa

Đường dài vạn dặm gót chưa nỡ rời

 ( Đăng Hoành sơn )

 

Hoa đẫm lệ ngấn sương ngày trước

Nhạn trắng kêu gió gọi bạn xưa

Vào thu lá rụng mịt mờ

Vô vàn chuyện cũ ghi tờ mây treo     

                                                   (Ký hận-Gửi hận)

 

Gió sông thổi lạnh trời chiều

Trăng soi giấc mộng cô liêu quê nhà   

                                        ( Từ ngày đi xa-Tự quan chi xuất hĩ)

 

Thử mời trăng

Trăng vào lòng chén

Nhắp lên môi

Trăng khuất biến đi

Bóng ai ngang dọc đáy ly

Ta ngừng đặt xuống

Trăng thì hiện ra

 

Trăng sông Trà gương soi nước bạc

Xách gươm đi quyết chí một đi

Chớ buồn mềm yếu nữ nhi  

                                                          ( Bài ca Trăng thu sông Trà Khúc)

 

Kinh thành mờ khói, mộng trưa

Kiếm cung là lúc đang vừa sức trai

Biển Đông Đà Nẵng dặm dài

Đảo xa lớp lớp chờ tài trượng phu

                                                         ( ra tù, rời Huế, vào Đà Nẵng )

 

Nghênh ngang đầu đội nón mây

Vừa đi vừa hát khúc ngoài tiêu dao

Cúi đầu mái thấp lẽ nào !

                                                Phóng Tiễn Nguyễn Trúc Khê

 


Cưỡi mây cao, giận chín tầng trời thấp

Phá giặc thù, ba tuổi sợ muộn ru !

Phá tặc đãn hiềm tam tuế vãn

Đằng vân do hận cửu thiên đê vân

 

Sáo kia bắt chước tiếng người

Thế nên lưỡi cắt thân ngồi lồng son !

                                                     Vịnh chim sáo

 

Nhà nghèo lo rét sớm

Nhà giầu sợ nắng hè

Nhân tình ai phải trái

Tân niên lặng lẽ về      

                                                Đại hàn

 

Năm nao nàng đôi tám

So với trăng, sắc thừa

Phôi pha cùng năm tháng

Ngỡ vẫn còn nét xưa !

 

Tiếc rẻ ánh trăng vàng

Ta lấy vạt áo gói

Xé làm mảnh thư tình

Gửi giai nhân đêm tối…

       ( Đêm 17 dưới trăng)

 

Bốn phương ngóng mưa rào

Sấm sét trốn nơi nao ?

Mỏi trông chân trời gió

Ước bay cùng mây cao

                                                 ( Du vân )

 

Côn Sơn Hành

 

Ngọn cây gió lạnh ào ào

Ngửng đầu nghe vọng tiếng gào người xưa !

Trông về Bắc, người xưa đâu tá

Chiếc mảng câu, trăm trận non sông !

Vui buồn nghiêng ngả cành thông

Cho người sau xót huyền không sự đời…

 

Trèo đầu non, nhìn xa tám cõi

Tùng vài cây, mây vẫn nổi trôi

Rụng đầy xác lá bời bời

Chim về, hỏi khách đứng ngồi về chưa ?

 

*

 

Vào đời thiên lý mã

Mắt sáng đèn vạn niên

Tựa gối vợ chải tóc

Con thơ ngả đầu nằm..

                                                 (Nằm bệnh)

 

             Vô danh cỏ đỏ một mầu

            Tưởng như lửa cháy đốt đầu lan can.

                                                            (Cỏ trong vườn)

 

            Đỉnh Tản Viên thang mây Trời bắc

            Giáp non cao hái được chùm sao !

                                                            (Vịnh núi Tản)

              

Ễnh ương kêu bụi rậm

Phải chăng kêu hộ dân ?

Sao mày kêu quá chậm

Muôn người chờ mưa tuôn.

*****************************************************************

Thế kỷ 20-21, đọc lại thơ CBQ tưởng như tác giả không xa thời hiện đại bao nhiêu : các cụ Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Du…đi sứ Tầu, chỉ biết Tầu…CBQ trong rủi có may, ông đi sang Mã Lai, Tân Gia Ba, chứng kiến văn minh Âu Tây tân tiến, tầu thuỷ máy chạy hơi nước :

Không buồm không lái không người chèo

Cột tầu chót vót

Ống khói nhả mây lưng trời cao

Lúc chạy ngang, giật lùi nhanh hơn ngựa…

 

Ông thấy người da trắng da đen, ông nghe tiếng đại bác ca nông bắn vào Đà Nẵng…và ông thức tỉnh rất sớm, văn chương chữ nghĩa chỉ là trò chơi chẳng ích dụng trong thời đại văn minh mới, chẳng cứu được nước, chẳng giúp được dân…vua quan như phường tuồng, ếch ngồi đáy giếng, tầm chương trích cú, soi mói từ muội đèn đến phạm huý…Cảm hứng của ông đến từ thực tế xã hội : gặp người chết đói, người tát nước môi run bụng lép áo tơi quèn, đeo gông trong nhà tù, bị tra tấn, con chết quê nhà mà bố không về được, vợ nghèo nuôi con, mẹ mất, khởi nghĩa, xông trận…mọi cảnh huống nhân sinh ông đều trải qua, bi phẫn cũng có mà chí khí đội trời đạp đất của một kẻ sĩ cũng có. Chỉ trong vòng mươi lăm năm (1841-1854) CBQ đã hoàn thành cuộc hành trình từ Tri đến Hành, thành hay bại trong cuộc nhân sinh chẳng phải là quan trọng, quan trọng là dám sống và dám làm, sống cho ra sống, làm cho thật lòng, đấy chính là triết lý sống của một con người đứng thẳng trong Trời Đất vậy.

 

Văn thơ Ông là cầu nối từ Cổ điển sang Hiện đại, ông thoát từ văn tự Trình Chu sang hiện thực, ông không những đã vẽ những bức tranh siêu thực trừu tượng cao đẹp như các nhà Nho trước, mà còn vẽ cả những bức tranh hiện thực xã hội, từng nét rõ ràng, làm nổi bật thời đại mình sống. Hậu thế đọc thơ CBQ tưởng như đang theo dõi cả cuốn phim mô tả hành trình một con người đã biết sống, biết lẽ sống, biết định hướng sống, biết phản ứng theo con tim mẫn cảm, thành khẩn với lòng mình, không nô lệ vết xe đổ, không đóng kịch với người và với mình, ông lớn lên từ niềm đau, trưởng thành qua kinh nghiệm phong sương, hành động vì đại nghĩa dù biết mọi cố gắng trong cõi phù sinh có thể là công cốc.

Thơ Thánh Quát

dau chan nguoi xua
Dau Chan Nguoi Xua !

THI THÁNH THƠ THẦN

CBQ để lại 1353 bài thơ và 21 bài văn. Hiện nay mới dịch ra quốc ngữ khoảng 10%,. Đa số dịch giả dịch theo nghĩa, từ Hán sang Việt, ít dịch giả dịch thành thơ hay như Vũ Mộng Hùng, Nguyễn Quý Liêm…

Chỉ đọc hơn trăm bài cũng đã thấy nhiều điểm nổi bật : tư tưởng sâu xa, hình ảnh kỳ lạ, đầu đuôi nhất quán, bút pháp tân kỳ, nhanh như chớp, rộng như trời, mạnh như sấm, đập rung động cảm quan, sắc bén như dao…tâm hồn cao, cảm xúc thật làm nền cho văn chương cẩm tú, không khô rỗng, không rời rạc, không vẽ rắn thêm chân, không lấy từ đẹp che lỗ thủng…

Chúng tôi phỏng dịch tuỳ hứng trích vài dòng tứ lạ, ý sâu, nhặt nhạnh châu ngọc của người xưa sót lại, ươm ấp hương thơ, giữ thi vị của thi thánh, mong người đọc, thương cảm ông, chia sẻ nỗi niềm một thiên tài bị Trẻ Tạo vứt vào xó An Nam châu chấu, mạt vận, đeo gông, bêu đầu, giữa cuộc hý trường nước non múa rối ma quân.

*****************************************************************

Tay cầm gậy trúc leo cao
Núi sông vạn dặm thu vào mắt ta
Chợ Trời nâng sáo, bao la
Cả cười hỏi cách vòm xa mấy trùng ?
Du Sài Sơn

Sáng lên Hoành sơn ngắm
Chiều xuống Bàn Thạch tắm
Hòn đá nhặt hai nơi
Giang sơn không đầy nắm !
Triêu đăng Hoành sơn lập
Mộ há Bàn kinh dục
Huề thủ lưỡng phiến thạch
Giang sơn bất dinh cúc

Thành xây cao ngất đụng trời
Phù sa cuồn cuộn ngời ngời dòng sông
Giang sơn canh cánh bên lòng
Hỏi mình làm mãi thi ông sao đành ?
Hoạ bài Phóng quan Nhị Hà

Mặt trời đỏ rực đi đâu
Để dân đen mãi âu sầu thở than

Nâng chén rượu, xin mời Bác sóng
Tuổi thiếu niên, ta thích trêu người
Núi phía Tây, bác lôi gần lại
Thành hướng Đông san phẳng càng hay
Du Tây hồ

Múa chẳng hay bằng gươm Tổ Địch
Kiếm vẫn vung
Ý chí vẫy vùng
Bút chẳng sánh thơ tiên Lý Bạch
Ngâm vang lừng
Vẫn sao rụng trời rung

Nhớ nhung vời vợi đất trời
Nỗi lòng thương cảm bời bời khôn nguôi
Du du thiên địa tâm
Thương cảm hà thời cực ?
( Viết hôm nhận được thư nhà)

Rượu ngon cất chén mơ mòng
Đường dài, ngựa mỏi, hỏi lòng tính sao ?

Dưới trời không ngủ mình ta
Trên trời sao cũng nhạt nhoà muốn rơi
Thơ ngâm vang vọng ngoài trời
Hỏi ai đêm tối là người nghe thơ ?
(Đọc Thi kinh)

Rượu say ghé hỏi hoa sen
Rằng hoa có đỏ bằng men mặt này ?

Gió từ phương nào tới
Lùa tràn vách núi cao
Du vân

Sông Hương là một phiến trăng
Cổ kim soi bóng mênh mang nỗi sầu

Trùng trùng núi bọc quanh đồng
Trời xanh dựng kiếm dòng sông sáng ngời
Trường giang như kiếm lập thanh thiên
(Buổi sáng qua sông Hương)

Hành trình xa vạn dặm
Nhớ nước tưởng ba thu
Mắt xanh đời mấy kẻ
Sóng tự nhiên bạc đầu
(Hoạ thơ Trần ngộ Hiên)

Bạc đầu sóng đánh nộ cuồng
Sấm ran chớp dựt cánh buồm ngả nghiêng
Hải âu bay liệng trời riêng !

Ước gông làm bậc thang mây
Ta leo gió thoát đoạ đầy trần gian
(vịnh cái gông dài)

Sông Hồng cuồn cuộn sóng hùng
Mới hay vạn dặm tấm lòng trượng phu.
Bất kiến ba đào tráng
An tri vạn lý tâm

( Còn tiếp ).

Thi Thánh CAO BÁ QUÁT

VÀI NÉT VỀ CAO BÁ QUÁT

1-Sinh 1809-mất 1855 (hay 1808-1857 ?), kém Nguyễn Du 43 tuổi (1765-1820), sau Nguyễn Công Trứ 30 năm ( 1778-1858 ).

2-Ông đậu Á nguyên Cử Nhân 1831 tại trường thi Hà Nội. Thi Đình ở Huế 2 lần không đậu ( 1832 và 1835). Thời nhà Nguyễn có 2 trường thi ở Bắc, 4 trường thi ở Trung và 2 trường thi ở Nam. Dân số và sĩ tử ở miền Bắc đông đảo nhất vậy mà chỉ có 2 trường thi như miền Nam đất mới dân thưa !

3-Năm 1841, đời Thiệu Trị, CBQ đang giữ chức Hành tẩu bộ Lễ ( chức vụ tạm thời chờ bổ nhiệm Tri huyện, Tri phủ, Chủ sự…) thì được cử sơ khảo kỳ ân khoa trường Thừa Thiên để tuyển 40 Cử nhân. CBQ và Phan Nhạ đã dùng muội đèn chữa 24 quyển thi phạm huý vì tiếc văn tài thí sinh. Ông bị tống giam, tra tấn và ngồi tù khoảng 1 năm, ra tù Thu 1842. Nguyễn văn Siêu, làm phân khảo kỳ thi, cũng bị cách chức vì cho CBQ ngủ cùng phòng thù tạc trong kỳ chấm thi.Vua Thiệu Trị khá rộng rãi : 5 thí sinh đã đậu vì được sửa bài, đều cho thi lại và đều được ban bằng Cử nhân như trước.

4-Cuối 1842 CBQ đi hiệu lực (lấy công chuộc tội) ở Quảng Nam-Đà Nẵng, 1844 cùng phái đoàn Đào Trí Phú đi Tân Ba 7 tháng ( khi ấy cả Singapore, Malacca, Penang đều gọi chung là Singapore) mua 1 chiếc tầu máy hơi nước vua Thiệu Trị đặt tên là Điện Phi Hoả Cơ Đại thuyền- so với ngựa chạy từ Gia Định ra Huế thì còn nhanh hơn 1 ngày đường ( hơn 3 ngày thay vì hơn 4).

5-Đi công tác hải ngoại về, CBQ được vua tha tội về quê sống bên hồ Trúc Bạch, Hà Nội với vợ con.

6-Năm 1847 lại được triệu vào Huế, viện Hàn Lâm, sắp xếp văn thơ cho vua Tự Đức (lục phẩm). Đây là thời gian CBQ tham gia sinh hoạt văn chương thi xã ở Huế.

7-1850 ra làm giáo thụ phủ Quốc Oai, Sơn Tây, từ đây CBQ liên lạc với các nhóm dân tộc thiểu số Mường ở Tây Bắc ( không xa Hoà Bình) như Đinh Công Mỹ, Bạch Công Chân, tôn Lê Duy Cự làm minh chủ, CBQ làm quân sư, đúng mùa châu chấu bay như rạ cắn lúa, dân đói…Trong đời Nguyễn, riêng miền Bắc tính ra gần 300 vụ nổi loạn lớn nhỏ, cho đến khi Pháp sang, nhà Nguyễn tuy thống nhất VN nhưng không cai trị nổi miền Bắc, gần như bỏ rơi khiến mươi lính Pháp hạ được thành Ninh Bình, 180 lính Pháp hạ được thành Hà Nội. Các quan cai trị miền Bắc đều cử người từ miền trong ra như Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu, Nguyễn Hữu Độ ( Tổng đốc HàNội), Phạm Phú Thứ (Tổng đốc Hải Dương)…không nắm vững dân tình địa phương.

8-Cuộc khởi nghĩa của CBQ không nhỏ và giới hạn như sử nhà Nguyễn ghi lại. Đây là cuộc khởi nghĩa có tầm vóc với sự tham dự của giới sĩ phu ( học trò CBQ), nông dân, dân Mường, con cháu trung thần nhà Lê, đánh trận ở Sơn Tây ( Mỹ Lương, Quốc Oai), tới Thanh Oai ( Hà Đông sát Hà Nội), lan tới Hưng Yên, Hải dương sau khi CBQ đã bị chết/bắt. CBQ với lòng yêu nước vô bờ và mẫn cảm, đã nhìn ra nguy cơ ngoại xâm khi tầu Pháp đổ bộ vào Sơn Trà và bắn 80 phát súng thị uy, năm 1847 lại vào cửa Hàn uy hiếp…

9-Tự Đức phái 500 quân từ Thanh Hoá ra dẹp loạn, tên Đinh Thế Quang bắn chết CBQ tại trận Yên sơn ( Quốc Oai), 100 người chết, 80 người bị bắt sống, đầu CBQ bị bêu khắp các tỉnh miền Bắc, sau chặt ra ném xuống sông. Họ Cao bị tru di tam tộc, riêng Cao Bá Nhạ, con Cao Bá Đạt trốn được 8 năm ở vùng chùa Hương, sau cũng bị bắt và xử tử nốt. Tuy vậy dòng họ Cao vẫn không tuyệt, có tài liệu cho rằng họ Hoàng Cao Khải ở Nghệ An, đệm chữ Cao vì gốc là họ Cao Phú thị của CBQ. Lại có thuyết cho rằng CBQ bị bắt, cầm tù, sau mới bị chém và đầu bị bêu khắp các tỉnh.

10-Một điểm hiểu lầm về CBQ :- Mới đầu CBA chê “ Câu thơ Thi xã, con thuyền Nghệ An”, sau chính Thi chủ là Tùng Thiện công Miên Thẩm tới tận nhà CBQ ở Huế để làm lành, lại kín đáo giúp đỡ ( bạc tiền, tơ lụa…) CBQ trong lúc túng quẫn, con chết ngoài quê…CBQ rất cảm động ơn tri ngộ của một thi nhân hoàng gia kém mình 10 tuổi và sau cũng tham gia Mặc Vân thi xã- 1847, cũng là thời vua Tự Đức trọng văn chương, khen ngợi Thần Siêu Thánh Quát.

11-CBQ viết về Phép Làm Thơ

Trước khi trở ra Bắc 1850, từ biệt Huế và Thi xã, CBQ đã đề tựa tập thơ Hà Thượng của Tùng Thiện công với hai quan điểm về Thơ hỏng và Thơ hay như sau :
i.Ba loại người làm hỏng Thơ : Người kém thì khổ về nỗi nhân tuần (noi theo cái cũ)- Người có hào khí thì mắc bệnh nuốt sống, bắt tươi-Những người có sức học dồi dào thì hí hửng tự đắc, muốn vơ vét trăm nhà, thâu tóm mọi thể, mô phỏng quá nhiều mà phong cốt chưa cao, tô điểm có khéo nhưng tinh thần còn thấp. Đây chính là cái bệnh “ đóng cửa gọt rũa câu văn, lải nhải nhai lại từng câu từng chữ”
ii.Thơ hay : Tuy phải chú trọng về qui cách nhưng làm thơ thì phải gốc ở tính tình. (có tấc lòng cảm xúc thật- trích theo CBQ-Tham Luận Hội Thảo tr.49 và 144 )…Phẩm chất của người là phẩm chất của thơ, phẩm chất người cao thì thơ cao. Ông có mối cảm với truyện Hoa Tiên : Xưa nay nỗi khổ của người ta không gì bằng chữ tình, và cái khó của đời người không gì bằng sự gặp gỡ…
Như muốn thưởng thức tinh tuý của trà, không nên ướp trà với hoa…âm điệu rườm rà làm mất thể thơ Đại nhã…CBQ viết rõ hơn : Bản chất cây chuối là luôn luôn làm ra bẹ mới, nõn mới. Có cái mới mà làm cho nó mới lên, đó là nghĩa vậy…

iii Thi Nhân : -Từng trải, đi khắp non sông, để có thể nhận định sự đời kim cổ
( kim cổ sự đa tu thức định ), đọc nhiều với đôi mắt thâu thái rọi soi như ngọn đèn ( khán thư song nhãn vạn niên đăng), biết sáng tác , lời bi tráng, viết trầm hùng, chẳng khác gì hun đúc bụi bặm cám bã thành gạch ngói, và cuối cùng người thơ cần hoà đồng, chia sẻ tâm sự chân thành với bằng hữu ( ngã đắc đồng nhân đạo, bằng lai dự hạp trâm).
CBQ nhấn mạnh : kiến thức hẹp hòi, nhìn con báo qua ống chỉ thấy được một vằn…con sâu muốn đo cả đất trời. Nhất là sau khi đi Tân Ba về, CBQ tỉnh ngộ : Văn chương chữ nghĩa hoá là trò chơi…trót lầm lỡ vì danh hờ, phí một đời cho mấy pho sách cũ.

Thiên Lý Mã

Thiên lý mã
loanh quanh ngã ba đường
Thanh gươm báu
Vào ra cuộc hý trường !

PHONG THUỶ Đất Việt

TỔNG QUAN PHONG THUỶ ĐỊA LÝ NƯỚC VIỆT

Khi Lý Thường Kiệt xác quyết ” Nam quốc sơn hà…tiệt nhiên định phận tại thiên thư ” (1076) thì có thể hiểu Thiên thư là bản đồ chiêm tinh ghi rõ biên giới nước Đại Việt ” Theo sách Thiên quan, từ sao Đẩu mười một độ qua sao Khiên Ngưu đến sao Chức Nữ bảy độ là tinh kỷ. Kể về sao th́ì ở về ngôi Sửu … ” ( trích theo Việt Sử Tiêu Án ).

Tiền nhân chọn đất để lập quốc th́ì không những phải lựa chọn những vùng đất tốt có thể trồng trọt sinh sống, lại cần thế hiểm trở để phòng ngự sinh tồn , phải có sông nước làm mạch, có núi non phên dậu…nhưng song song với những yếu tố vật lý nhân văn trên, cổ nhân còn tin tưởng vào thiên lý với Thiên, Địa và Nhân như một tổng thể, một Gestalt nói theo ngôn ngữ thời đại. Tổng thể này bất khả phân, vận hành trong vũ trụ cùng với chu kỳ trăng sao, khi thăng khi trầm, khi thịnh khi suy. Thế nên ” thiên lý tại nhân tâm “và khi tâm động quỷ thần tri, tất cả là một đơn vị nhất nguyên xoay chuyển trong tam thiên đại thiên thế giới, kinh qua ngàn vạn năm, tiểu chu kỳ trong đại chu kỳ, lồng vào nhau , cùng xuyên qua diễn trình thành, hoại, tiêu, trưởng của muôn loài.

Lịch sử nhân loại là lịch sử dằng co giữa Thiện và Ác, Âm và Dương, đấy là NHÂN SỬ phản ánh THIÊN SỬ ghi bằng những vệt tinh đẩu nhật nguyệt. Cá nhân có tàn lụi, sơn hà vẫn tồn tại, sơn hà có nghiêng đổ thiên hà vẫn chói sáng … thời gian trần thế và thời gian vũ trụ chồng lên nhau như những búp hoa, nở rồi tàn, tàn rồi nở.

Chiêm nghiệm tượng Trời để suy diễn thế cuộc, nhìn sao hôm, sao mai, sao chổi, nghe động đất núi lửa…cũng là cách tìm cái tâm vũ trụ vang trên cái tâm của cây sậy nhỏ bé uốn mình trong giông bão. Đấy là nguồn của khoa học và triết lý nhân bản nhân loại Đông Tây Nam Bắc cổ xưa. Nguồn này tách ra làm hai, một dòng đổ vào khoa học vật lý với những khám phá rực rỡ về vật chất, từ tế bào đến điện tử, một dòng đổ vào tôn giáo tín ngưỡng dị đoan. Dòng trên thành vật quyền, dòng dưới thành thần quyền, cả hai đều rời xa tâm thức uyên nguyên ” thiên lý tại nhân tâm “, tâm người cũng là tâm vũ trụ, soi chiếu lẫn nhau mà không đè ép.

Khi nhân hóa vũ trụ, con người có thể suy diễn rằng núi non giống như xương cốt, sông ngòi giống như mạch máu, đất đai giống như thịt da, cây cỏ giống như lông tóc. Người có khí lực, đất có long mạch, địa linh thì nhân kiệt, đất tốt thì cây cỏ xanh tươi…luật quân bình Âm Dương áp dụng cho vạn vật, song song với ngũ hành tương khắc được phát triển sau này. Tiểu vũ trụ và đại vũ trụ, rất giống nhau, óc nhị biên làm con người tách khỏi thiên nhiên đưa tới tình trạng vong thân (aliénation) trầm trọng.

Lê Quí Đôn trong Vân Đài Loại Ngữ trích theo Khổng Tử Gia Ngữ : ” Người sinh ở đất dắn tính tình cứng cỏi, sinh ở đất mềm th́ì nhút nhát, sinh ở đất dắn đen tính nết tỉ mỉ, sinh ở đất nở thì đẹp đẽ, sinh ở đất thưa mỏng thì xấu xí ” và theo Hoài Nam Tử ” Sinh ở đất nhẹ th́ì nhanh nhẹn, sinh ở đất nặng thì chậm chạp, ở nơi nước trong thì tiếng nhỏ nhẹ, ở nơi nước đục thì tiếng thô cộc…đất trung châu sinh nhiều thánh hiền “.
Người dân Việt khi nói ” Ăn phải nước phải cái ” hoặc ” đất lành chim đậu ” cũng diễn tả cái nghĩa ” thiên nhân tương quan ” nói trên.

Tổ tiên Lạc Việt định cư ở vùng châu thổ sông Hồng cách đây hơn bốn ngàn năm, đại thế chiến lược phong thủy để tính cuộc phát triển Bắc cự Nam tiến, hàm ẩn trong huyền thoại quốc đạo năm mươi con xuống biển, năm mươi con lên núi. Muốn dân tộc đủ lực Bắc cự thì phải nằm vào long mạch tương đương với long mạch Bắc phương Trung Hoa, muốn Nam tiến phải có phong thủy khuynh loát nổi Chiêm Thành Phù Nam… Ngọc phả Hùng Vương ghi chép chuyện Lạc Long đi khắp nước (lúc đó mới vào đến Đèo Ngang ) tìm đất đóng đô, thấy 99 ngọn Hồng lĩnh tuy đẹp nhưng đất hẹp sỏi đá, sông ngòi nông cạn ngắn ngủi, nên bỏ ra vùng trung du cao rộng. Tới ngã ba sông Thao nước đỏ, sông Lô nước xanh quấn quanh ba ngọn núi đột ngột nhô cao như đầu rồng là núi Hùng, núi Trọc, núi Vặn, xếp hàng chầu về linh địa là 99 ngọn đồi như 99 thớt voi từ Phú Lộc đến Thậm Thình, lại thêm vài chục quả đồi thấp hơn như đàn rùa từ Việt Trì bò lên, địa thế vừa đẹp như tranh vẽ vừa phát nở dài rộng, vua Hùng vừa ý chọn làm quốc đô.

Các mạch Sông Hồng, Sông Mã, , đều chảy theo hướng Đông Nam thuộc cung Thìn là Long cung, nên các dòng sông ở vị thế ” long cư long vị “, rồng ở tổ rồng, khí lực rất mạnh mẽ lâu dài.Đặc biệt sông và núi, âm và dương, đi song song với nhau, khiến thế quân bình của khí mạch được sinh động.
Cả vùng đất cổ Việt có rất nhiều địa h́ình kết tụ long mạch nếu theo lý phong thủy nơi linh khí kết tụ là các ngả sông hội lại như vùng Việt Trì , vùng sông Lục Đầu, vùng Tuyên Quang, Lai Châu… có từ 3 tới 6 mạch nước hội tụ tăng cường khí mạch hưng phát.

Cổ thư nước Hàn khi bàn về phong thủy trong việc chọn đất định cư chú trọng tới 4 điểm : mạch nước, thế đất, hình núi và mầu sắc đất. Đất và núi phải toát ra sinh khí, đất phải rộng nhưng kín và có mạch nước , mạch nước mở rộng quá bị thoát khí nên cửa sông cần vừa phải. Đất rộng sinh đại nhân, có đồi bao quanh hình bán nguyệt lại càng quí. Đất có sông lạch đâm thẳng vào như mũi tên phải tránh, đất nằm ép giữa núi như đất thung lũng có âm khí, ban ngày có sương mù, mặt trời lên muộn, lặn sớm, nhất định không phải đất làm nhà, dựng đô. Đồi núi lớp lớp bao quanh, nên cúi chầu về hơn là dựng đứng như đe dọa… ( Y Chung Hwan’ s T’aengniji- Uni. of Sydney ).

Sông Cửu Long dài 4180 cây số, là một trong những con sông dài nhất thế giới, chẩy qua Lào, Miên, Việt 2700 cây. Cùng với Hoàng Hà và Dương Tử Giang, sông Cửu Long phát nguyên từ cao nguyên Tây Tạng, mang lại cho Đông dương một khí mạch tương dương với Trung Hoa. Điểm đặc biệt của dòng sông này là đổ ra biển theo hướng Đông Nam ( giống sông Missippsippi của Hoa Kỳ ), cung Thìn, tượng trưng là rồng, vì thế cổ nhân gọi là Long và Cửu là cực số tượng trưng mức tiến hóa cao tột huyền diệu ( như cửu trùng, chín tầng mây…không có nghĩa là 9 cửa sông ), Cửu Long từ xưa đã được nhìn bằng nhãn quan phong thủy mà đặt tên tất là trường mạch đầy khí lực của Đông Nam Á. Miền núi Tây ninh ( 900 m.) làm tay long, miền núi Thất sơn làm tay hổ , tại hai nơi này chấn phát lên hai giáo phái lớn. Núi Tây Ninh đột ngột nổi lên giữa đất rộng phẳng, có khí thế giống Tản Viên, Tam Đảo, Núi Hùng ở miền Bắc, có thể là huyệt kết của tả ngạn Cửu Long.

Từ vùng phong thủy Mã-Hồng-Đà, có hướng sông, núi và châu thổ xếp đặt giống nhau, có quân b́ình âm dương đều đặn, phát huy được văn hóa Trung đạo nhân bản, vào tới miền Nghệ An, Hà Tĩnh lại bắt đầu một khối phong thủy khác.

Hồng lĩnh 99 ngọn, kết phát hùng khí, bị chiết giảm trường thế vì đất hẹp và sông nông mạch ngắn. Ngay từ Thanh Hóa cũng là thế đất ” cuối sông đầu núi, nhỏ hẹp, thấp trũng “, nơi ấy trong Dư Địa Chí Lý thị bàn ” khi loạn ở thì thích hợp, khi trị ở thì không thích hợp … Ở Nghệ An lòng người hung hãn hơn người Châu Ái …” Khi Hồ Quí Ly xây Tây Đô tại Thanh Hóa ( 1396 ) Vương Nhữ Thuyết can gián ” bên phải bên trái núi đá sát kề, sông Mã sông Lương hợp lưu phía trước ” không phải là đất lập đô.”

Đất Saigon Gia Định nằm giữa 4 con sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây, Sông Saigon, Sông Đồng Nai, bốn dòng sông này chẩy ra biển Đông như một vòng cung từ Vũng Tầu tới Gò Công, là đất kết phát. Nhìn chung, ưu điểm phong thủy địa lý miền Nam là sông dài, rộng, đất phẳng, triển nở sinh lực, cây cỏ tươi nhuận, nên là đất lành ít tai ương binh lửa, gọi là Phật địa cũng không ngoa . Sông nước êm đềm , núi thấp, nên âm thịnh, vùng Gò Công ( đất Giồng Sơn qui ) đã là đất phát vương hậu triều Nguyễn.

( trích VSSLinh xb 1999)

Tư Tưởng Một Thoáng

cafe Paris-Trithuc via he

-La mort est normale mais tout le monde la considère comme anormale.
Sinh Lão Bệnh Tử, Sinh ký Tử quy, là chuyện bình thường, nhưng mọi người đều xem là bất thường.

La mort néantise tous les efforts
Sự Chết hư vô hóa mọi nỗ lực trong cuộc nhân sinh.

Toutes les sublimations de la vie intellectuelle sont inutiles devant la mort.

Trí thức thăng hoa cuộc sống, vẽ vời chân thiện mỹ qua thơ nhạc hội hoạ nghệ thuật… nhưng trước thần chết, tất cả đều vô ích, có chăng là vài mảnh vụn đôi khi làm khổ hậu thế.

(hình Cafe via hè Paris, trí thức ôm kiến chấp tháp ngà)

Em Là Chiếc Bánh Ú

EM LÀ CHIẾC BÁNH Ú

Trời là một bát canh
Rắc hạt tiêu tinh tú
Em là chiếc bánh ú
Hiền như chén chè sen
Quê em từ Đồng Tháp
Hay xứ dừa thân quen ?

Ta là chú vện
Vỉa hè loanh quanh
Đánh hơi thần thánh
Ta là hành khất
Nhặt đồng tiền rơi
Má lúm em cười.

SAPA

SAPA

Lòng ta ai đánh cồng chiêng
Theo bùa sơn nữ về miền suối reo
Lòng ta lượn một sườn đèo
Váy đen vạt thắm em chèo núi xanh
Kiếp sau hóa cánh chim oanh
Hót trên non ướt cỏ lành đẫm sương.

12-2011

Kinh Tế Chế Sản

Kinh tế chế sản

Cách đây gần ba ngàn năm, kinh tế Việt Nam phát triển rộng lớn trong thời trống đồng. Việc đúc kim loại và làm đồ sứ chứng tỏ nền kinh tế nông nghiệp đã trưởng thành và trợ lực bồi phát các lĩnh vực kinh thương khác. Chính sách kinh tế Việt Nam suốt ngàn năm là chính sách Chế Sản, dựa trên tinh thần ”bất hoạn quả nhi hoạn bất quân” (không sợ ít tài sản, chỉ sợ không quân bình) của nền vương đạo Nghiêu Thuấn, được thể hiện từ đời Hùng Vương, khi vua và dân gần nhau như trong một gia tộc. Khoảng cách giữa vua quan và dân chúng không quá chênh lệch như sau này.
Phép hạn điền và quân điền đều được thi hành qua nhiều thời đại với mục đích quân bình tài sản. Ðời Lê Quý Ly có lệ thứ dân không ai được có hơn mười mẫu ruộng, đời Hậu Lê cứ sáu năm lại chia công điền công thổ tùy theo số dân đinh và số ruộng đất, đời Nguyễn cũng dựa theo đời Hồng Ðức nhà Lê mà định lại địa bộ và đặt lệ khuyến nông.
Việc thuế má cũng phân minh, thuế đinh và thuế điền, định cho mỗi làng là một đơn vị nộp thuế, thuế có thể nộp bằng tiền hoặc sản vật. Lý trưởng đốc thuế trong làng xã rồi mang tiền hoặc lúa nộp vào kho do quan Bố Chính trách nhiệm dưới quyền kiểm soát của bộ Hộ. Quyền thanh sát nằm trong tay quan Tổng Ðốc và Ngự Sử khâm sai. Năm nào hạn hán, vỡ đê, nhà vua lại miễn thuế cho dân.

Ðặc điểm của chính sách kinh tế thời quân chủ là tôn trọng quyền tư hữu của dân chúng nhưng đồng thời quyền tư hữu này không tuyệt đối vì ruộng đất trong nước là của vua, dân làm ruộng cho vua, được hưởng lộc mà cũng phải nộp thuế. Công điền công thổ do vua ban không được bán mà được dùng để giúp binh lính, cô nhi quả phụ (cô nhi điền, quả phụ điền), để nuôi thầy học và học trò nghèo (học điền, bút điền) v v… Xem thế thời xưa đã có dụng ý Chế Sản và tránh việc tập trung tài sản vào một thiểu số.

Nói chung, sinh hoạt kinh tế ở một nước nhỏ có khá nhiều tài nguyên như Việt Nam cũng đã cung ứng cơm áo cho dân và tránh được tình trạng ”nước chảy chỗ trũng” như ở xã hội quá thiên trọng công thương. Xã hội nông nghiệp Việt Nam đã tự túc kinh tế, sinh tồn cả ngàn năm, cho tới lúc Tây phương xâm nhập mới bắt đầu xáo trộn về giá cả, thị trường quốc tế v.v… Trật tự sĩ, nông bị tài lực đe dọa lấn át, từ đây tạo ra những chênh lệch mà thời xưa đã dụng ý hạn chế.

Ðành rằng nền kinh tế nông nghiệp với con trâu và cái cầy không đưa đất nước tới phồn thịnh để xây cất các công trình kiến trúc vĩ đại, các dinh thự nguy nga như ở các nền văn minh công thương Ai Cập, Tầu v.v… nhưng cũng đã từng tạo được một xã hội yên ấm hạnh phúc. Triều đình dù có toàn quyền cũng ít khi cưỡng bách dân vào các công tác nặng nề đồ sộ như Vạn Lý Trường Thành, Kim Tự Tháp… Nước nhỏ thu vén sinh hoạt theo nước nhỏ, giản tiện công việc khôn ngoan của người xưa, biết ”khoan sức dân” như lời Trần Hưng Ðạo trối trăng 700 năm về trước.
Ngoại trừ một số ít hôn quân bạo chúa, vua quan của ta tương đối có lối sống thanh đạm, ít thấy xa hoa quá đáng như ở các chế độ quân chủ phong kiến khác. Khoảng cách giữa dân đen đóng khố và nhà giầu lụa là nhà ngói cây mít tưởng vẫn ngắn hơn mức độ chênh lệch giữa dân vô gia cư (homeless) và nhà tỉ phú ở nước tư bản, hoặc giữa cán bộ cao cấp và dân đói trong chế độ chuyên chế. Thời xưa dân nghèo có đi mò cua bắt ốc vẫn còn hơn thời này đi câu tôm câu cá mà có thể bị kết tội phá hoại nhà nước hoặc bị đóng thuế!

Truyền thống Kinh Tế Tự Do Chế Sản của tổ tiên có ưu điểm là đặt triết lý dẫn đường cho kinh tế. Kinh tế tự nó bao gồm những sinh hoạt nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất của con người. Dục vọng vô bờ, lòng tham vô đáy tạo thành chênh lệch qua nhu cầu giả tạo phù phiếm. Kinh tế tự do hoặc kinh tế độc tài đều trực tiếp hoặc gián tiếp đẩy tài vật vào một thiểu số. Chỉ có chính sách Chế Sản mới có thể điều hợp quân bình (moderate control and balanced management) trung dung được sinh hoạt kinh thương cho xã hội loài người.

( trích lược Vạn Xuân Kế Sách )
Photo : Chua Tieu Son-Tinh Than Van Hanh

Luồng Thơ

Đám mây lạ trên đền ĐÔ thờ vua LÝ-1998

LUỒNG THƠ

Bầu thơ men tiên tửu
Thần thánh dốc say Trời
Vài giọt rơi cõi thế
Tình cờ sôi máu người

Luồng Thơ dâng sóng nhạc
Núi vỡ, suối hoà âm
Mỏ chim sơ sinh hót
Treo lồng kinh nhập tâm

Thơ mênh mông
Hư không giăng tinh tú
Bẫy giai nhân về Trời
Giáng tiên vào cõi thế
Cánh bướm lượn trêu người.

3-3-2012

(hình đám mây lạ đền ĐÔ thờ 8 vua LÝ-1998)

Phong Thuỷ Đất Nước PHÁP

PHONG THỦY ĐẤT PHÁP
Hạ Long Bụt sĩ

Mỗi vùng đất, có sông có núi, theo cổ nhân, phải có thổ thần, long mạch..Đây là khía cạnh siêu linh của con người sống trong một tổng thể Trời, Đất, Người, bện vào nhau, thiên nhân tương quan chặt chẽ, cùng trôi trong dòng Thời gian bất tận.

Mỗi vùng long mạch hội tụ, tạo một điểm thiêng, như thể là nơi Trời Đất giao hòa, Thánh thần hóa hiện, nơi Tiên và Tục gặp nhau, một Hộp Thư treo để những thánh ngôn thần ngữ mật ảnh gửi tới cho thế nhân…tương tự như óc não và hệ thần kinh, một thoáng nào đó, một giây phút thần giao cách cảm bất chợt bắt được qua điện từ trường siêu trần giới…
*
Ở Hy Mã Lạp Sơn, trên đỉnh Tây Tạng với hồ nước thiêng, điện Potola xây ngay trên miệng núi lửa, tập hợp khí thiêng địa cầu, mấy con sông lớn, kể cả Cửu Long đều bắt nguồn từ đây.

Trung Hoa với đỉnh Thái sơn, Hoàng hà Dương tử quấn quanh, mạch truyền từ rặng Côn Lôn chia làm ba cán long : Hoàng Hà phía Bắc, Mân Sơn phía Đông, Hắc Thủy phía Nam kéo dài tới Tiểu Côn Lôn thì tách biệt thành chi thiếu tô mới chạy sang nước Việt.
Chi thiếu tô sang đất Việt lại chia thành 3 : chi hữu (hổ) theo sông Đà qua Sơn Nam thượng, vào Thanh Nghệ, đến Thuận Quảng thì tản ra các cù lao gần biển Đông; chi tả (long) qua Tuyên Quang, Lạng Sơn, ra Quảng Ninh Hạ Long; chi giữa từ Tam Đảo xuống liên tiếp Thái Nguyên, Bắc Ninh, Thăng Long, Hải Dương, Sơn Nam hạ. đấy là theo luận giải của Phạm Đình Hổ, tác giả Vũ Trung Tùy Bút thế kỷ 18.
Đất của Lạc Việt, bộ tộc chính trong Bách Việt chọn, có đỉnh Tản viên xòe ra như cái lọng (nghĩa chữ tản), tay long Tam đảo, tay hổ Ba vì, giữa là Đà giang, Hồng Hà rất hùng hậu.

Đảo Nhật Bản riêng biệt một góc, phong thủy rõ nét nhất, với đỉnh Phú sĩ toát ra từ trường linh diệu thánh thần, Thái dương Thần nữ mỗi bình minh đều tỏa ngời quanh đây.

Bên Âu châu, đã có nhà phong thủy Tầu, nhìn tổng thể thấy đất Đức là trung thổ, tay long tay hổ là giải đất Thụy Điển Na Uy một bên và Anh quốc một bên.

Nhưng lần mò tầm long, thì chính tại một góc nhỏ bé, giữa Anh và Pháp, góc biển Manche, Tây Bắc Pháp, là linh địa giao hòa Tiên Tục, khí thiêng sông núi toát ra, mỏm núi Saint-Michel kỳ diệu giữa bãi cát thủy triều lên xuống. Mỏm thần kỳ này từ nhiều thế kỷ đã chất chứa bao huyền thoại :

Ngôi nhà thờ trên mỏm núi “nhất trụ kình thiên” này thờ thánh Saint Michel, một vị thần chiến tranh, trong thánh kinh (Revelation), ngài là vị thần chiến thắng ác quỷ (dragons), được nhiều nơi sùng bái trong thời Trung cổ Âu châu. Nơi đây, xây dựng khởi đầu từ năm 708, cũng là thành trì giúp Pháp đứng vững trước các cuộc tấn công của quân Anh suốt cuộc chiến tranh 100 năm (Guerre de cent ans 1337-1453), từ đó, thánh Michel trở thành biểu tượng hiệp sĩ chống ác tà, của Catholics chống lại Tin Lành. Tượng thánh tay cầm gươm tay cầm cán cân công lý. Thế kỷ X, dòng tu Benedictines cư trú ở tu viện nhỏ rồi dần dần dân chúng tụ tập quanh tường thành, nhà thờ xây cất thành một pháo đài kiên cố và là biểu tượng lịch sử của dân tộc Pháp.

Góc trời này là non Bồng nước Nhược của Pháp, với những tảng đá vĩ đại megalithiques rơi rớt rải rắc quanh một bán kính 25-40 cây số, huyền thoại kể rằng đây là những tảng đá quỷ thần vác lên xây cung thánh rồi rớt lại, để quên khắp vùng…cũng giống như những tảng đá vĩ đại bên Anh, hay như những vẩn thạch từ trời cao rơi xuống Tây Bá Lợi Á! Khi thủy triều lên, nước và trời cao giao hưởng phát ra những luồng sáng kỳ lạ, ngay hiện tại người ta vẫn chụp được những đốm sáng rực trên nhà thờ hiện ra trong khoảnh khác rồi lại biến mất..Hiện tượng này từ 1640 các nhà tu đã chiêm nghiệm và ghi vào sử sách, ngay từ 1452 vào một ngày thứ sáu tháng 11, chín giờ đêm tự nhiên nổi lên những tiếng động sấm sét đánh vào chuông nhà thờ tưởng như giờ tận thế, quanh chuông phát ra luồng sáng rực như ban ngày. Linh điểm trời đất giao thoa này còn xẩy ra những hiện tượng siêu linh khác : mỗi lần có tu sĩ nào gần chết trong nhà thờ thì tự nhiên có ba tiếng động như búa đập xuống. Năm 1050 và 1263 các tu sĩ còn nghe rõ các “thiên thần đồng ca, với hòa âm tuyệt diệu chỉ có thể có ở trên trời !”

Đặc biệt năm 1987 khi tượng thánh được tu sửa và đặt lại vào vị trí nhà thờ thì một cơn bão táp mạnh chưa từng thấy đã nổi lên, gió giật mạnh 200 km/g, một luồng sáng hiện lên, lúc hiện lúc tắt thật đều đặn suốt một giờ, điều kỳ lạ nhất là thủy triều lên mênh mông nhưng đã chừa lại một khoảng cát nâu trắng hình trái tim, như lòng tin dâng hiến lên vị Thánh bảo vệ thiện nhân chống lại ác quỷ.

Từ thời trung cổ, người Thiên chúa giáo tin rằng góc trời thiêng này là hình ảnh của Thiên đường, một đất hứa Jerusalem địa đàng, và thánh St Michel, thường được thờ trên những núi, đồi cao, như một thần bất tử bảo vệ sông núi.

Khi đức Phật giảng về cõi Người và cõi Thiên, thì đã gián tiếp nói về một cõi trên thế gian này, cõi Thiên là cõi của thần, của thánh, của một loài Trời phi thiên, có thể xuống cõi này nghe kinh thuyết giảng, hoặc bậc giác ngộ Bồ Tát cũng có thể lên cõi Trời hoằng pháp

Phong cảnh kỳ diệu của góc trời này, một mỏm núi đột khởi giữa eo biển Tây Bắc Pháp, bên kia biển Manche là Anh, từ đất liền ra phải đi ban ngày, qua bãi cát còn ướt nước, buổi chiều thủy triều dâng lên vây kín quanh mỏm núi thiêng, tục nhân không vào cõi Tiên được nữa! đây là giây phút tín hữu tin rằng cổng đóng để thánh mang linh hồn người chết về Trời!

Từ bậc dưới leo lên khá cao, đi qua những gian hàng dựa vào lưng thánh mà sống, bậc đá kiên cố như những lâu đài thời Trung cổ, càng leo lên tới đỉnh lại càng thấy gió lộng phần phật, bên trong khí thiêng, u u minh minh, nhiều phòng thời cách mạng 1789-1869 đã được dùng làm phòng giam tù nhân..và vẫn có một khu cấm địa, bàn thờ chính điện, như hậu cung, cấm du khách vào..vẫn là một nơi bất khả tư nghị, thế kỷ 11 đã xẩy ra những sự kiện siêu linh như có người ban đêm vào chánh điện, bất chấp giới luật, đã bị thánh vật, co quắp mấy ngày rồi chết, thế kỷ 13 lại có người thấy bóng dáng 3 vị thánh quanh bàn thờ vào ban đêm..Trong bóng đêm chìm đắm, trong nhà thờ, cả nghìn năm, thiên thần mật ảnh phảng phất khí thiêng còn dính vào vách, vào chấn song sắt rỉ sét..và vẫn làm người tới thăm yên lặng, cung kính.

*

Tôi bước ra khỏi nhà thờ, vừa đi xuống bực đá, vừa ngẫm nghĩ so sánh với năm xưa, đi vào động Hương tích, leo núi Tản với độ cao dựng đứng..không khỏi bồi hồi, bỗng chốc như quên hẳn thời khoa học kỹ thuật trên mảnh đất Âu châu này, con người, sâu thẳm trong trái tim, dấu một nguồn suối linh thiêng, nhắc nhở cõi tục vẫn dính vào cõi trời cõi tiên cõi thần cõi thánh..và lòng tin như mồi lửa châm lên bùng cháy soi sáng cả một vũ trụ mới, gọi là mới nhưng thật ra rất cổ xưa, vạn năm, nghìn năm, phục sẵn trong huyết mạch con người, nếu không thế, con người sẽ chỉ là tảng đá vô tri, lăn lóc trên mặt đất, trên hành tinh, chẳng cần tới hệ thần kinh, tới trí khôn, tới lịch sử…

*

Những háo hức tuổi trẻ lần đầu tới Pháp ba mươi năm trước, 1976 nay không còn nữa. Thế kỷ XXI, 2006, không phải là thế kỷ lãng mạn, hoặc giả tuổi tác đã lừa dối chính mình như câu nói của văn hào Corneille : mais mon age a trompé ma généreuse envie..Tôi ngồi lại với nhóm bạn xưa, kỷ niệm 36 năm, ba chu kỳ Tử vi, cùng dưới mái học xá Chapel Hill, Đại học Carolina..họ là nhóm người Pháp, Bỉ..nhìn ra chuyển đổi kinh tế toàn cầu xuất phát từ Mỹ, nên dù đã tốt nghiệp ở các đại học lớn như HEC, như Kỹ sư..vẫn sang Mỹ học thêm MBA..Bây giờ, hơn 30 năm qua, họ cũng gần đến tuổi về hưu, đã giữ những chức vụ cao cấp trong giới kinh doanh công tư..họ là lớp đưa Âu châu vào trào lưu kinh tế mới, trào lưu đại thị, điện tử, kết hợp với Mỹ, với Nhật..Một ông chuyên nghề đồ cổ, có cả chục bức tranh từ thế kỷ XV, XVI, sưu tầm những pho tượng bán thân cả dăm sáu trăm năm, tủ gỗ Ba Tư thế kỷ XIII..tâm sự : “ Tụi tôi trong lòng mang mặc cảm tội lỗi làm hại Đông Dương, gây hoạ cho các bạn..” thấy ông 65 tuổi, hiền hoà, chồng một cô bạn cùng học xá, thành khẩn, tôi đỡ lời “ Chuyện qua rồi, thực dân quả có gây tai hoạ, nhưng sau đệ nhị Thế chiến, khi Ấn độ yên bình trong Liên Hiệp Anh thì Đông dương bị họa Cộng sản phá thế cờ Liên Hiệp Pháp. Giả dụ không có Cộng sản, thì từ Liên Hiệp Pháp sang độc lập hoàn toàn cũng chỉ mất nhiều lắm là mươi năm mà không tốn nhân mạng, không gây oan oán hận thù chập chùng..” Ông thở phào : “ lời nói của một người trong cuộc..làm tôi thấy nhẹ nhõm hẳn..” rồi ông vào tủ lấy một chai sâm banh quý, mở nút nâng ly uống mừng.

Trên tầng lầu 39 cao ốc tân kỳ, nhìn thẳng tới tháp Eiffel, sát dòng sông Seine và khu rừng Boulogne trước mặt, đúng nửa đêm mới mãn tiệc, tháp bắt đầu lấp láy đèn, sáng loang loáng cả khung cửa kính . Paris 6-2006

Cuốc Kêu Voi Thét

Hồn Mơ Voi Trận

CUỐC KÊU VOI THÉT

Tri kỷ ngàn năm trơ gan đá
Tri âm lưỡi gió ngậm cỏ cây
Tim réo biển gầm xô sóng bạc
Xoay đầu gió ngược tóc thông thiên.

Huyết quản dập dồn bão tố
Làn da này cho lá mượn heo may
Tri âm ư ? có vỉa hè thơ ấu
Gót giầy vang nhộn nhịp trống tan trường

Hiểu ta ư ? thớt voi thét rừng hoang tìm Hưng Đạo
Tiếng róc tre ngà quất Phù Đổng ngựa bay

Sôi gan, bập bùng đuốc lửa Viêm Việt
Phủ hồn thơm ươm khói trận Đống Đa
Tri kỷ thế gian, đâu hồn non Tản
Tri âm địa cầu tinh tú sáng ngàn hoa !

Hiểu ta ư ? cuốc kêu lõm thạch bàn Ngũ Lĩnh
Nghe ta chăng, ve khoét rỗng lòng đại thụ Cổ Loa !

26-2-2012

Một Mình

Bên bờ Cửu Long-Lào 12-2011

MỘT MÌNH NGỒI QUÁN CÀ PHÊ

Một mình ngồi quán cà phê
Bạn bè đâu hết ? cà kê một mình!
Người Cực Lạc, kẻ vô minh
Bạn kia Chúa gọi, nhân sinh lạ kỳ !
Một bầy cừu, một đàn dê
Đàn ông đa sự, tỉ tê đàn bà
Tai nghe tin tức loài ma
Mắt nhìn thấy quỷ dạ xoa quanh mình

Cố nhân đâu đó ẩn hình
Nâu đen vài giọt tâm tình tri âm

Đáy ly cái bóng thì thầm
Đóng màn kịch ảo đường trần xá chi !

Rồng Khai Xuân Bút

Loài Điệp/me hoa vàng

BƯỚC XUÂN VỀ

Mỗi năm me vàng rơi lấm chấm (1)
vỉa hè niên thiếu lắc lơ xa
là bước xuân về trong gió nhẹ
hồn quê trang trí đón mùa hoa!

Tôi nhớ
công viên lộng lẫy lá
thấp thỏm mong chờ tia nắng mai
tinh sương, mái ngói chưa tỉnh giấc
bồ câu tượng Mẹ ngủ bờ vai.

Lẩn khuất đâu đây hình bóng cũ
tóc ai hương bưởi vẫn ươm thơm
tôi ngỡ
lòng tôi khô sa mạc
nào ngờ hoen ướt vết mơ loang !

Sớm nay,
một thoáng,
chợt bàng hoàng
ngọn cây khoác cánh
bốc mờ sương
say say trời đất xuân vào mắt
theo gió nghiêng nghiêng ghẹo phố phường

1-2012

(1) Me vàng : lá giống lá me, lá phượng, hoa vàng nhỏ, rơi rắc xuống đường, rất đẹp. Hỏi không ai biết tên cây !

Nhâm Thìn 2012-Chuyện Gì Có Thể Tới ?

Rồng- Đền Lào

CHUYỆN GÌ CÓ THỂ XẨY RA TRONG NĂM NHÂM THÌN 2012 ?
Hạ Long Bụt sĩ

1- Trung Quốc đã hưởng hoà bình từ 60 năm nay ( từ 1952 sau trận Triều Tiên-2012), một chu kỳ hoa giáp, tình hình sẽ chuyển đổi từ Bình sang Loạn. Quỷ Vương hết thời. Lâu đài kinh tế xây trên cát, với thất thoát 1700 tỷ mỹ kim tại các ngân hàng địa phương ( ¼ GDP) dự án gian dối cướp ngày, sẽ bị chính oan hồn hơn 30 triệu người chết oan chết đói thời Mao, thời Thiên An Môn, đòi nợ.
2- Bắc Hàn cũng vậy, cái đuôi của Trung quốc, chẳng thể yên bình cho 3 đời bá ngọ họ Kim trư cốt heo.
3- Việt Nam, quẻ Ly, nam phương thuộc Hoả, bom đạn thập niên 1960-70, phá đứt nhiều long mạch, nhất là vùng Trường sơn, đồng dao “ Đụn sơn phân dái, Bò đái thất thanh” đang ứng nghiệm, đã hơn 30 năm an bình, sẽ chuyển hoá , “ hoàng thiên tru ma vương” theo luật càn khôn. Miền Nam, đồng bằng Cửu Long là Phật địa, tai ương ít hơn miền Bắc và Trung Việt, ma vương không có hang cáo lẩn tránh. Theo phong thuỷ, miền nhiều núi non, không bằng phẳng, nhiều tai ương, hang động càng nhiều (như Phong Nha), càng là nơi ẩn trú của chúng sinh cõi Âm, tác quái lên dương gian thời mạt pháp ( xem Triết lý hang động-Nguyễn Đăng Thục )
Khi xưa Đại Việt tiêu diệt Chàm ( thời Lý quân Việt giết Chàm nhiều quá Vua phải ra lệnh ngưng, đời Lê Thánh Tôn chặt 40,000 thủ cấp, xem ĐVSKTThư !), nay oan oán chưa thể hết, thảm cảnh di tản 1975 và oan khiên kinh hồn trên biển Đông chỉ có thể giải thích bằng lối nhìn siêu linh ấy, và nếu nghiệm ra lịch sử VN từ thời Kiêu binh Lê Trịnh tk 18 đến nay, gieo oan chuốc oán, ác nghiệp đổ xuống, đưa Đại Việt vào mạt vận tang thương, theo luật nhân quả bất khả tư nghị.
Với vụ chìm tầu kỳ bí Vinalines Queen tại biển Đông, với các vụ chết bất đắc kỳ tử của bọn khuyển ưng Kgb ngoài biển của vùng đất nặng nghiệp, có người cho rằng oan hồn cả trăm ngàn thuyền nhân chết đuối đang hiển linh đòi lại nhân thiên lý !
4- Nhật Bản với thế đất rất lớn của Phú sĩ nhô lên từ biển cả, hưởng 2000 năm oanh liệt, nhưng cũng nằm trên đại hiểm hoạ phong thuỷ, tướng diện người Nhật đa số trán thấp, sự trường tồn của dân tộc Thái dương thần nữ này quả là một dấu hỏi lớn ! hơn nữa họ từng dùng gươm sát sinh nhiều, đã có thời họ quây cả vạn người ( khoảng 38000) theo đạo Thiên chúa vào thành rồi đốt chết hết, ở Nam kinh họ chém chặt ít nhất 300,000. người Tầu. Nằm trên vùng núi lửa, động đất, sự tồn vong của đảo quốc này bấp bênh như con thuyền nan giữa sóng thần !
5- Nước Mỹ, bảo trợ khối dân rất nặng nghiệp là dân Do Thái, sẽ chịu gián tiếp nghiệp oan, bị dính líu trèo kéo vào binh biến chiến tranh vô bổ, trong quá khứ và tương lai. Bom nguyên tử, do đầu óc Do Thái nghĩ ( A.Eisntein) ra và chế tạo ( Oppenheimer) , vừa làm chết cả trăm ngàn người Nhật, thì chỉ 5 năm sau, 1950-52, quân Mỹ chết ở Triều Tiên 50,000 người, và 10 năm sau, lại mất 58,000 quân ở VN, oan oán không dứt.

Những gì, vô tình hay cố ý gây ra, đều ghi vào sổ nợ nghiệp dĩ, người Do Thái chết 6 triệu người trong đệ Nhị thế chiến, nhưng chính họ (Bolsheviks) dựng nên thế giới phi nhân CS, làm cả 100 triệu người dân chết oan, cho nên họ sẽ còn phải trả giá oan oán. Dân số Israel hiện tại là khoảng 6-7 triệu, con số tiền định chăng ? Hiện tình, đối thủ Ba Tư ghê gớm của họ có nguyên tử, nếu chiến tranh xẩy ra, đất Israel hẹp chỉ bằng vùng Vịnh Bắc California, thiết tưởng khó tránh cảnh diệt vong. Cả một khối Hồi giáo bao quanh, bộ phận cực đoan rất mạnh, ngòi nổ tất có ngày bùng phát. Quyết liệt sinh tồn, Do Thái không từ bỏ bất cứ phương tiện nào, kể cả hành động tàn ác, gươm so gươm, súng đọ súng, một trận chiến quyết định lịch sử nhân loại sẽ có cơ xẩy ra. Âu cũng là luật xoay vần của Tạo hoá, chẳng văn minh nào, văn hoá nào, đứng vững mãi 2000 năm !

Tham khảo :
Các tư liệu Prophecies từ Google- Việt Sử Siêu Linh xb 1999 Lưu Văn Vịnh, Việt Sử Tiêu Án-Ngô Thời Sĩ tk 18-Dictionnaire de L’ Astrologie-Larousse…
Garrison, Omar : The Encyclopedia of Prophecy- Citadel Press-NJ 1979
Wallechinsky, David & Wallace, Amy & Irving : The Books of Predictions-Bantam 1981
Lưu Văn Vịnh : Việt Sử Siêu Linh 1998-California- Phong thủy đất Việt-Sấm Vạn Hạnh, Trạng Trình, Cơ bút Liễu Hạnh và Tiên Tri Tây phương. Khẩu truyền cụ Ba La (sinh 1870 mất 1973)
Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan-nhà xb VH 2005
Sấm Trạng Trình- nhiều bản- Xem www.halongvandan.wordpress.com Category mục Sấm Ký.

Tiên Tri Dự Đoán 2012

Phat-Laos

CẬP NHẬT TIÊN TRI DỰ ĐOÁN năm 2012
Hạ Long Bụt sĩ

1-Về ngày Đông chí 21-12-2012 : ngày bắt đầu của một chu kỳ mới theo lịch Maya của thổ dân Mỹ châu, không phải là ngày tận thế . Chu kỳ cũ bắt đầu từ năm 3113 BC tới 2012 là chấm dứt để chuyển qua Đệ ngũ đại kỳ ( 5th Sun). Đây cũng là khởi đầu của 3 năm rưỡi 21/12/2012-6/3/2016 quan trọng, đầy biến chuyển, theo cuộn Kinh Thánh biển chết Death sea scroll, theo kinh Hồi giáo Koran, và theo Nostradamus.
2-Ngày 7 tháng Năm 2012 là ngày xuất hiện của một lãnh tụ chống Thiên chúa antiChrist, nhưng phải tới 2013-2014 nhân vật ghê gớm ấy mới lộ rõ chân diện mục. Cũng có người cho rằng Putin chính là kẻ sẽ gây ra đại biến. Nhiều nhà tiên tri như Cheiro, Edgar Cayce…cho rằng thế chiến sẽ khởi phát khi Nga, Iran, Lybia, …tiến quân vào Jerusalem.
3- Cũng trong khoảng tháng Năm, 2012, đức Giáo hoàng La mã Benedict sẽ mất và người kế vị có thể là một người da đen, là vị Giáo hoàng La Mã cuối cùng theo tiên tri Malachy.
4- Bà Vanga, tiên tri mù xứ Bulgari, tiên đoán chiến tranh hoá chất lớn ở Âu châu, do Hồi giáo cực đoan gây ra, khiến bao người bị phỏng lở da thịt vào năm 2014-2016. Theo bà, thế giới tận thế vào năm 5079.
5-Thiên tai động đất rất mạnh, cỡ 8.5 R có thể xẩy ra ở Chili, Úc, Nhật, Alaska-Ở Âu châu, Iceland và cả ở Địa Trung Hải như Vesuve. Đường nứt San Francisco-Los Angeles cũng có thể phát động mạnh.

*

Các lời dự báo tiên tri trên là của Âu Mỹ. Đối với Đông phương, năm 2012 năm Nhâm Thìn, năm Rồng thường là năm tốt, Nhâm thuỷ, Thìn thổ, thuỷ có thể khắc hỏa ( Nam phương quẻ ly, lửa đỏ), lợi cho chính nhân quân tử, bất lợi cho tiểu nhân ma vương quỷ sứ.Việt phương Nam thuộc quẻ ly (hoả), Nhâm là thuỷ, biến vi vương, phù trợ chính đạo vương vị.

Xét theo tướng diện, các lãnh tụ Trung Cộng đều có hình tướng thấp hèn, từ Hồ Cẩm Đào tới Tập Cận Bình : trán thấp, gương mặt thiếu thần khí oai phong…họ không thể là lãnh tụ lớn của một nước 1.3 tỷ dân, sẽ không để lại được dấu vết gì trong lịch sử. Họ Tập, tai và mũi tốt, có thể là lãnh tụ bá đạo Trung Cộng mạt vận. Tên tiểu yêu phì nộn cốt heo Kim ở Bắc Hàn cũng sẽ diễn màn bi hài kịch cuối cho họ Kim Trư Bát Giới và cho khối dân bị tẩy não bù lu bù loa khóc bác cáo hơn cha chết ! ( xem youtube/ national geographic/north korea ).
Tướng diện nguyên thủ phản ảnh vận mệnh đất nước : Stalin, Breznev, ác quỷ tướng…tới Gorbachev tướng hiền hoà đưa Nga ra khỏi ngục tù sau 70 năm. Có thầy Tử vi (Cự Vũ) xem rất nhiều số cho Việt kiều nhận xét : họ đều có Thiên mã, Thiên di tốt, nên mới ra được hải ngoại, thật là :

Thế tư bản, thế cộng sản
Gặp thời thế, thế thời di tản ! ( LVV)

Sao Ngưu,Trâu-Sửu, là phận dã thiên thư của đất Việt .

Bài thơ phá Tống của Lý Thường Kiệt làm vào năm 1076 có câu: tiệt nhiên định phận tại thiên thư, phận có thể hiểu là phận dã tinh đẩu và thiên thư là bản đồ tinh tú phân định ranh giới ta với Tầu, Chiêm… Thời xưa chiêm tinh lý số hết sức hệ trọng đối với vận mệnh đế vương và giang sơn, được nước là được mệnh trời, mệnh trời có tinh tú tỏ bày như chữ ký của Hoàng Thiên, sông núi như phản ánh của mốc giới tinh hệ. Lê Quí Đôn trong Vân Đài Loại Ngữ, chương Khu Vũ Loại, cho biết sao Ngưu sao Nữ phân biệt Ngô, Việt, sao Quỷ, sao Chẩn, sao Nữ… thuộc nước Việt Nam, tác giả Việt Sử Tiêu Án, Ngô Thời Sĩ viết rõ ràng : Theo sách Thiên Quan, từ sao Đẩu 11 độ, qua sao Ngưu đến sao Nữ 7 độ là tinh kỷ ( nước Nam ), kể về cung thì ở về ngôi Sửu… Phùng Khắc Khoan, học trò Trạng Trình, rất tinh thông lý số, trên đường đi sứ Tầu cũng xác định phận giới nước ta bằng sao :

Phiếm hải khinh sa ngưu đẩu diệu

thuyền vượt biển Đẩu Ngưu sao sáng
( thơ xướng hoa với sứ thần Cao Ly 1597 )

trong Sấm Trạng Trình sao Ngưu được nhắc tới nhiều lần ( Ngưu tinh tụ Bảo giang.., chọn Đẩu, Ngưu những vì sao cả…) lại càng chứng tỏ thời xưa lấy sao làm chuẩn phân định thiên hạ, có mệnh trời mới chiếm được đất, làm chủ được núi sông, mới được thủy thần thổ thần xứ ấy tuân phục phò trợ.
Có thể vì thế mà rất nhiều nhân vật lịch sử Việt Nam mang tuổi Sửu như : Bảo Đại, Ngô Đình Diệm, Phan Khắc Sửu…xa xưa như Phùng Hưng, Lê Đại Hành, Trần Quang Khải, Lê Lợi, Tự Đức, Dục Đức…Thời nay, nhiều người tuổi Sửu (1949 và 1961) đang giữ địa vị cao trong nước, tuy nhiên bá quyền thay tên đổi họ, xoá ngày sinh…nên không có căn cứ quyết đoán được.

Bài sấm nhắc đi nhắc lại mỗi năm Thìn :

Long vĩ xà đầu khởi chiến tranh
Can qua xứ xứ khởi đao binh
Mã đề dương cước anh hùng tận
Thân Dậu niên lai kiến Thái bình.

Không chắc là sấm Trạng Trình. Bài này xuất hiện thời 1940 Thìn, với các năm 1941 Tỵ, Ngọ 1942, Mùi 1943…có thể do nhóm các cụ nhà Nho ( như phó bảng Nguyễn Can Mộng làm ra, theo lời cụ bốc sư Ba La) để giải đoán thời thế. Sấm Trạng Trình không mơ hồ về Năm Tháng vì 500 năm nay, từ thời Trạng Trình đến nay, biết bao năm Rồng năm Rắn ? Sấm Trạng cũng như sấm ký Nostradamus thường bị thêu dệt, thêm thắt, do niềm ao ước, wishful thinking, vô căn cứ tới độ lố bịch ( thí dụ dùng thể lục bát không có trong tk 16, ngay cả câu chữ Nho cũng bị bóp méo như Lê dân đao bảo noãn…biến báo thành Lê Duẩn trên một mạng lý số hiện tại !!! hay bịa đặt thời 1960 : Bao giờ trúc mọc quanh thành để chỉ huy hiệu cây trúc thời Ngô Đình Diệm…). Nhưng vào thời điểm này bài sấm trên tương ứng với các lời tiên tri Tây phương về cuối năm 2012 (Long vĩ) thì biết đâu lại chẳng ứng nghiệm !

*

Cổ nhân có câu : Đức năng thắng số, một người hay một dân tộc, biết giác ngộ, vun trồng thiện căn, thì vận có xấu cũng giảm bớt đi, số có đen cũng không tuyệt vọng. Đức lại nằm trong tay người mẹ : Phúc đức tại mẫu, cũng có thể hiểu là phúc đức do người phụ nữ bồi đắp dậy dỗ con cháu. Tướng pháp nhìn phúc đức qua đôi tai có thành quách, không bạt nhĩ (vô phúc), dầy dặn, dài là phúc thọ tướng…cùng với nét đều đặn quân bình của khuôn mặt. Một cách khác là nhìn vào nụ cười : phụ nữ có nụ cười tươi tắn mang lại phúc cho mình và con cháu, phụ nữ mang khuôn mặt đăm chiêu, buồn, như cây không trổ hoa, chim không tiếng hót..thường gặp đoạn trường, tướng đàn bà mồm loa mép dải “rộng miệng tan hoang cửa nhà” đã trở thành nhận xét tướng pháp phổ biến.

Cho nên dân Việt, con cháu Âu Cơ, với nghiệp dĩ oan oán chồng chất, rất nên soi gương mặt hiền ác trên áng nước Động Đình Hồ để tìm lại chân diện của tổ tiên nhằm chuyển hoá vận nước sử mệnh về hướng Thiện. Dân tộc nào không vun trồng thiện nghiệp, dân tộc ấy sẽ tiêu vong theo luật nhân quả. Với biệt nghiệp tốt ít ỏi, cộng nghiệp oan khiên quá nặng áp đảo đè xuống, hạnh lạc tưởng rất khó bền vững trên vùng đất từng là minh châu trời Đông..

TRI KỶ VỐN VÔ TRI

chu nai san chua NhatBan

TRI KỶ VỐN VÔ TRI !

Lăn tăn phiến me rơi
Viết đầy trang nhật ký
dấu chân hè lưu niệm
tri kỷ vốn vô tri !

Mưa tri âm điệp khúc
Nghẹn ngào thuở biệt ly
Ngày chia tay với lá
Lòng ta chẳng ra đi!

Mộng trai từng trang trải
Mênh mông dưới trời mưa
Thời gian dài điếu thuốc
Giấc mơ ngắn năm xưa !

Hồn ta là ấm nước
Trà đã nhả hết hương
Sáng nay mình độc ẩm
Sôi dư ảnh trong sương.

10-Jan 2012

2011 in review

The WordPress.com stats helper monkeys prepared a 2011 annual report for this blog.

Here’s an excerpt:

The concert hall at the Syndey Opera House holds 2,700 people. This blog was viewed about 16,000 times in 2011. If it were a concert at Sydney Opera House, it would take about 6 sold-out performances for that many people to see it.

Click here to see the complete report.

Vài Dòng Thơ Cuối Năm

Lào-12-2011

VÀI DÒNG THƠ CUỐI NĂM

Triết gia chỉ là
Viên đá cuội
Sóng sói mòn
Trơ trọi ốc đảo xa
*
Dương gian- Âm phủ
Hai vế
Tổng hợp đề
Một cõi phù du !

*

Thiên đường là nơi vô hiệu hoá mâu thuẫn
Trần gian là nơi trải dài những giấc mơ xô sát đối nghịch.
*

Loài nhện
nhân ngãi đêm
nhìn thiêu thân
lao vào mắt giai nhân

SANG XỨ LÀO, NHÌN VỀ XỨ TA

Mái cong chồng nhau, không khí lưu thông, mát mẻ.

Mình rồng thon, mềm maị, không dữ tợn.


6 chiếc trống đồng lớn nhỏ

SANG XỨ LÀO
NHÌN LẠI XỨ TA

1- Phòng khách khách sạn Inter City- Vientiane, bên bờ sông Mekong, trang trí lối cổ, tôi đếm được 11 cái trống đồng lớn nhỏ. Dân Lào không chắc có phải là chủ nhân ông đầu tiên của Trống đồng, nhưng cũng như Thái, chùa chiền thường trưng trống đồng, đôi khi mặt bàn và 2 ghế đẩu làm kiểu trống đồng, rõ ràng văn hoá trống đồng còn sâu đậm trên đất Lào, mà Việt Nam ta tự hào-hay tự kiêu- là sư tổ của nền văn hoá này, thì chẳng thấy đình chùa nào bày biện trống đồng, có chăng là nay cho in hình trống đồng lên áo dài, lên khăn ! Ta bỏ hay quên văn hoá ấy, nhưng Lào thì vẫn giữ gìn trân trọng, dù là phiên bản, biết đâu họ cũng là bộ tộc, từ vùng Bách Việt/Vân Nam đồng sáng chế những chiếc trống đồng, vại đồng…tinh xảo và chất chứa đầy ý nghĩa văn hoá đó?

2- Dân Lào, và các bộ tộc miền núi, hoà đồng bên nhau, tấp nập chợ đêm, hiền hoà, tuy đã biết nói thách, nhưng không thấy vẻ gian giảo quỷ quyệt. Cả Vientiane lẫn Luang Prabang dân ít, sạch sẽ, không xả rác bừa bãi, thủ đô Vientiane lác đác lảng bảng vài lá cờ búa liềm, Luang Prabang-khu phổ cổ rõ nét Pháp, đẹp, ấm cúng, thân mật, nhiều lá bùa đỏ hơn…ôi các thầy phù thuỷ Sô viết-Do Thái-Pháp…còn làm khổ dân Lào hồn nhiên, tử tế đến bao giờ !?

3- Bên này là Lào, bên kia sông là Thái, con đò băng ngang dòng Cửu Long khúc Luang Prabang khá rộng, chở người, hàng hoá, xe máy…Lào dùng cả tiền Baht Thái, nhưng không dùng đô la. Họ có tinh thần độc lập không vọng ngoại, ngoại trừ mấy ông phù thuỷ ý thức hệ, ảnh hưởng tả phái Pháp, vọng Nga-Tầu, bây giờ đang bị kẹt cứng, dân Lào xầm xì, hai tỉnh phía Bắc mất với Tầu rồi…Với dân số 7 triệu người, diện tích 230,000km2 lớn cỡ 2/3 Việt Nam, Lào quả rất khó bảo toàn biên cương dài dằng dặc.
4- Tới nơi mới thấy dân Lào có một nền văn hoá vững chãi, bám chắc chiếc pháo tâm linh qua Phật giáo Nguyên thuỷ Theravada. Những ngôi chùa, đền, cả vài trăm năm tới ngót nghìn năm , được Unesco hay Mỹ, Pháp, Đức tài trợ trùng tu, bóng cây bồ đề rờm rợp, thường cất trên đồi cao, dọc theo bờ sông Cửu…không có một ngôi chùa cổ Việt Nam cùng thời nào-chùa Dâu, chùa Trăm gian, Thiên mụ…có thể mang ra so sánh, hình rồng Lào rất đặc sắc : mình dài, mảnh mai, không dữ dằn như rồng Tầu, rồng ta với cái đầu lân, miệng há toang hoác…nhớ lại chùa Hương với hai con rồng tô vàng đỏ râu ria loè loẹt mà phát ngượng ! Ông bạn họ Hà, kỹ sư công chánh, chỉ ba lớp mái chùa cong chồng nhau giải thích : khe hở giữa các mái làm không khí lưu thông, khí nóng bốc lên, khí lạnh vận chuyển…kỹ thuật xây cất cổ đã đạt mức rất cao. Bản sắc Tiểu thừa qua bóng những nhà sư chú tiểu đi khất thực, được quốc tế khuyến khích giữ gìn truyền thống đẹp qua các bảng thông cáo tiếng Anh-Pháp mọi nơi, chợ đêm bán hình vẽ Phật giáo, tượng, hình lá bối, kinh chữ Phạn…không nơi nào thiếu, khác xa cái văn hoá Tầu, bàn thờ ông địa, thấp lè tè mặt đất của văn hoá duy vật duy tiền, dĩ thực vi tiên Tầu- Việt hiện nay.

5- Không gặp ăn mày ăn xin, lạ là không có ruồi, gần như không có muỗi ! món ăn, nghe nói thực phẩm chở từ Thái qua, có vị riêng, cá nướng, mực, gà nướng…quán bar quán rượu, những cô gái móng đỏ…phục vụ du khách Âu, Mỹ không nhiều lắm, đa số da ngăm ngăm đen giống Cao Miên hơn là trắng trẻo như Thái Chieng Mai. Thủ đô Vientiane có 194,200 dân, bằng dân số Hà Nội thời 1953-54, vỉa hè còn rộng chỗ cho khách bộ hành, không bị hàng quán chiếm lấn như Sài gòn- Hà Nội nhân mãn.

6- Anh kỹ sư trẻ người Lào, U Dong, gia đình vượt biên ngang sông Cửu 1975, tỵ nạn ở Thái rồi sang Mỹ, nay, trở về tìm gặp và lấy một cô vợ bác sĩ Lào…Gia đình trí thức Lào này, hai bác sĩ, một nha sĩ, sống cùng nhau trong khu nhà vườn rộng, mấy bà cô dì đã già của anh kỹ sư , đang ngồi xếp lễ vật cúng dường Phật, đứng lên chắp tay chào khách, hình ảnh cung cách in hệt một gia đình ở lục tỉnh miền Tây Nam Việt…bất giác tôi nghĩ tới gạch nối văn hoá Phù Nam, Kmer.. xưa lan tới cả phía Bắc Lào, và mảng văn hoá Phật Tiểu thừa từ Ấn-Tích Lan qua Miến Điện, Thái Lan, Lào, Cao Miên..dọc theo sông Cửu và sau này bị văn hoá duy lý Tây-Tầu pha loãng đi, nếu để nguyên, dân tình Lào phóng túng, hồn nhiên, thật thà, đâu có biết trò chơi tâm với vật, tiền với danh, trên mảnh đất Phật hiền hoà ấy !

***

Chỉ có 4 ngày 3 đêm, một thoáng xứ Lào, mà đã làm du khách quyến luyến : phía Bắc Luang Prabang, với thác nước, rừng, voi.. cùng địa hình địa vật với Sa Pa, núi cao 2800m, phía Nam sát Cao nguyên Việt, gần Cao Miên với cố đô Champasak, Vat Phou (2), hẳn có liên quan tới Champa Việt Nam ? Đất Lào hàng xóm tốt, ăm ắp di tích cổ sử, nên là điểm đến du lịch cho người Việt trong và ngoài nước.

Qua thăm Lào mới thấy ở nhà “ nhất vợ nhì con” là lố bịch, Tầu- Việt theo Phật Đại thừa với triết lý cao xa dành cho cao tăng học giả, không tạo được cơ bản cho bình dân an trú như Tiểu Thừa. Có lẽ dân Lạc Việt, Hán, Hàn không có căn cơ theo Phật chăng ? cho nên mới thi nhau bê Mác Lê về thờ, mang ông Địa ra cúng, đồng cốt xin xâm, bát nháo, không biết là vật thần quỷ thần hay ma giáo, thậm chí dân chúng Sàigòn ngày rằm, ngày mùng 2 âm, lũ lượt đi lễ chùa Ấn Độ, bà chúa Ấn thiêng cầu gì được nấy ! mà chẳng ai biết Ấn giáo, Hồi giáo là gì ! Ngay ở khách sạn người ta cũng hương hoa xì xụp cúng bái đầu chiếc xe Camry của ông chủ, số bậc thềm xây theo phong thuỷ tránh số 4 ( sinh lão bệnh tử) tứ-tử, bắt chước Tầu…Cho nên tin mật wikileaks Tầu muốn nhập Bắc Việt vào Trung Quốc không hẳn là tuyệt đối vô lý theo mắt nhìn của Tầu ! Đã có lần, trên TV Việt Nam XHCN, họ nói Phật giáo là duy vật vô thần (1), viên đại sứ Tầu tới thăm di tích thành nhà Hồ ở Thanh Hoá, nhân ngày lễ 600 năm, vô tư phát biểu : sẽ cho học giả Trung quốc sang nghiên cứu, đây là niềm hãnh diện lịch sử chung ( Hồ Quý Ly vốn gốc Tầu Chiết Giang đổi quốc hiệu Đại Việt thành Đại Ngu!).

Sơ lược NIÊN BIỂU Lịch Sử Lào

500 BC-800 CE cánh Đồng Chum dùng chứa xương người, vật dụng, hay chứa rượu cất cho chiến sĩ ?, từ 2000 năm xưa, 300 chiếc chum còn nguyên vẹn, số khác bị bom đạn thời 1960 làm vỡ nát ( quân CS Pathet Lào chiếm khu này)
200-300 chùa Wat Phu xây trên di tích tiền sử Ấn giáo
Tk 8-14 : dân từ Nam Trung Hoa di xuống đất Lào, trọng điểm là tk 11-12, họ là dân Nam Chiếu Bách Việt chạy giặc Mông Cổ di xuống như dân vùng Bắc Thái/Chieng Mai ?
889-1324 : thuộc đế quốc Kmer thời đại Angkor, phồn thịnh từ tk 6-15.
1353 vua Chao Fa Ngum khai lập vương quốc Lan Xang (vạn triệu voi), năm 1975 CS chối bỏ công lập quốc của FaNgum nhưng năm 2003 Lào hồi tỉnh, kỷ niệm 650 năm thống nhất Lào của vua Fa Ngum.
1479 Đại Việt xâm lăng Lào
1520 : chiến tranh liên miên cả 200 năm với Miến Điện
1548 Lào chiếm lại Chieng Mai ( đã bị Miến Điện chiếm 1511)
1560 rời đô từ Luang Prabang xuống Vientiane.
1694 Việt đánh Lào.
1713 vương quốc Lan Xang chia làm ba tiểu quốc dưới sự bảo hộ của vua Thái Lan, gồm Vien Chan, Luang Prabang và Champasack ( đi với Miến Điện nên bị Thái tấn công)
1805 vua Anouvong của Vien Chan đi với Việt Nam
1885 Thái xây thành luỹ ở Luang Prabang phòng ngừa Việt Nam
1886 : Lào ký với Pháp chia biên giới Việt-Lào
1893 Pháp đưa vua tiểu quốc Luang Prabang lên làm vua xứ Lào thống nhất.
1941 Nhật chiếm Lào.
1945 Pháp trả lại Thái phần đất Tây Lào/Cửu Long ( Pháp chiếm từ 1904)
1950 CS Pathet Lào kết bè CS VN chống Pháp.
14 tháng 4, 1953 Việt Minh xâm lăng vương quốc Lào với 40000 quân.
1956 Liên hiệp chính phủ với 3 thành phần Pathet Lào ( hoàng thân Souvanouvong), trung lập ( hoàng thân Souvanaphouma), bảo hoàng ( hoàng thân Boum Oum) đổ vỡ và tái lập mấy lần.
1961 : CIA dùng dân Hmong chống CS, khoảng 50,000 người Mèo bị chết trong cuộc chiến 60-75. Năm 2004 Mèo vẫn có 21 nhóm chống Cộng với 17,000 tay súng.
1973 Mỹ bỏ cuộc, Pathet CS Lào chiếm ưu thế trong chính phủ Liên hiệp.
1975 ngày 2 tháng 12 Lào quốc gia bị CS tràn ngập. Vua thoái vị.
1992 chủ tịch CS Kaysone chết.
1999-2000 phong trào dân chủ tự do dâng cao, từ bàn đạp biên giới Thái Lào với sắc dân Mèo quyết chiến (Vang Pao)
2007 : nạn tham nhũng hối lộ CS Lào nặng bậc nhất thế giới ( 168/179 nước)
2010 dòng Mekong 1500 km dọc xứ Lào nay cạn nước, khúc sông Vạn Tượng nông sờ lội qua được-10% tượng Phật bị mất trộm ! Kinh tế phụ thuộc Thái kể cả thực phẩm, thịt cá.

( tư liệu từ Google và tạp chí Muong Lao vol. 12 số 42 )

(1) kênh HTV3 18g20 ngày 6 tháng 12/2010 , chương trình Huyền Bí Sông Hằng, đoạn du khảo Myanmar-Thành nhà Hồ 2010 kỷ niệm 600 năm được Unesco công nhận, xem Google và phóng sự chiếu trên TV VN xhcn 2010.
(2) Vat Phou tên Sanskrit là Lingaparvata nằm dưới chân núi Phu Khao cao 1400m, núi có hình giống Linga thần Shiva Ấn giáo, xây dựng từ tk 7, qua tk 11-12 cùng thời Phật thịnh Lý Trần bên ta. Gần đấy còn có thành cổ Lingapura. Cùng văn minh kiến trúc Angkor Kmer, chùa chiền Lào ngang dọc cả 1-2 cây số, chùa Vĩnh Tràng-Mỹ Tho mang nét kiến trúc này, hiện tại may ra chùa Bái Đính-xây giống thành cổ Tầu- có quy mô rộng lớn ngang, nhưng xây cất cách nhau cả trăm nghìn năm rồi ! Nam Vat Phou, 2km, có đền Thao Tao có nghĩa là thần Kim Quy, phải chăng liên hệ tới cổ sử huyền sử Việt ?Khi An Dương Vương chạy về Nam ( bờ biển Nghệ An) có thần Rùa hiện lên, từ Nghệ sang cánh Đồng Chum không xa !
12-2011

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.